Thứ Hai, tháng 6 14, 2010

Hãy đợi đấy

Các công trình giao thông mới, thậm chí chưa, hoàn thành thường là đích đến cho những cuộc đi của tôi. Cầu Trung Hà, cầu Tạ Khoa, cầu Bãi Cháy, cầu Vân Đồn, đường HCM giáp HN,... đã là những điểm đến ít ngày sau khi khánh thành, nếu không quá xa đến mức phải lên kế hoạch.

Giờ đến lượt cầu Pá Uôn. Theo Ban Quản lý dự án 1 thuộc Bộ Giao thông Vận tải, cầu Pá Uôn - cây cầu có trụ cao nhất Việt Nam, sẽ chính thức được khánh thành và đưa vào sử dụng trong tháng Sáu này.
Hơi xa một tí. Nhưng, hãy đợi đấy!

Cầu Pá Uôn... tạo tuyến kết nối gần nhất giữa hai tỉnh Sơn La và Lai Châu
Còn theo tính toán của tôi thì tạo tuyến ngắn nhất giữa Hà Nội và Điện Biên Phủ.

Chủ Nhật, tháng 6 13, 2010

Những vấn đề Mỹ Yên

Một chút tình hình xã Mỹ Yên:
- Trụ sở mới của UBND/HĐND/ĐU đã khánh thành vào 25 Tết. Khu nhà cũ đã thanh lý cho các thôn lấy vật liệu làm Nhà Văn hóa, được 15 triệu Đồng sắp tới sẽ dùng để hoàn thiện "mặt tiền" trụ sở (sân, rào, cửa ngõ, cây xanh).
- Anh Quang đã thôi chức Bí thư, còn Chủ tịch HĐND cho đến hết nhiệm kỳ. Anh Hà phó CT UBND(?) kiêm thường trực ĐU nghỉ, anh Khương phó CT nhận thêm Bí thư, cô Nhì phó CT nhận thêm thường trực ĐU. Nói chung chưa có người mới trong "bộ tam" lãnh đạo Xã.
- Trường THCS đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia, trường Mẫu giáo đang phấn đấu tháng 8 tới nhận chuẩn, trường Tiểu học đi sau rốt, chưa biết khi nào. Đầu tư 135 của Nhà nước cho các xã nghèo của Xã chủ yếu rót cho các trường, khoảng 6 tỷ (xây nhà mẫu giáo mới, theo chuẩn cho THCS,...)
- Đề nghị được hỗ trợ cho Mẫu giáo đạt chuẩn.
- Địa phương phấn đấu các trường đạt chuẩn để Nhà nước sẽ có hỗ trợ nhiều hơn về giáo dục (theo kiểu thoát nghèo mới được hỗ trợ làm giàu trong kinh tế?)
- Anh Nguyễn Mạnh Nghĩa k3 mấy năm nay mỗi năm gửi qua UBND Xã vài triệu đồng tài trợ cho các cháu học sinh. Các anh Xã đã gửi thư trả lời, nhưng không có số điện để gọi trực tiếp. Các anh hỏi tôi xin số điện anh Mạnh Nghĩa, nhờ vậy tôi mới biết chuyện này.
- Một đoạn dưới Bom bom cũ mới được xây cái đập chắn lấy nước nông nghiệp, tạo thành vùng nước khá rộng và sâu. Anh Quang nói có lúc cả trăm người bơi, vầy ở đó.

Việc liên quan do k4 khởi xướng và thực hiện:
Hỗ trợ sách giáo khoa cho tất cả các cháu diện nghèo (theo chuẩn quốc gia) bằng tủ sách dùng chung đã thực hiện 2 năm.
Năm nay sẽ tiếp tục bổ sung số thiếu cho vừa với số lượng các cháu. Tin ban đầu số lượng sẽ ít hơn năm ngoái. Con số chi tiết Xã sẽ báo sau. Dự kiến trong tháng 8 sẽ có một chuyến chuyển sách lên.
Hôm qua chúng tôi lên Xã để thống nhất quan điểm hỗ trợ đúng đối tượng, không thiếu không thừa. Sau này có thể sẽ đề nghị chuyển cho học sinh tự quản tủ sách dùng chung, mua lại sách cũ để bổ sung vào tủ sách này,... có tính giáo dục các cháu.

Việc đề nghị các khóa khác của trường (liên thủ) xem xét thực hiện:
Các anh chị lãnh đạo Xã đề nghị hỗ trợ thêm cho trường Mẫu giáo một số thiết bị, đồ chơi để đạt chuẩn quốc gia. Trường Mẫu giáo vừa rồi xây sang diện tích mới hai tầng khang trang. Các thiết bị và đồ chơi đề nghị hỗ trợ:
- tranh tường sân trường. Sau khi đi tham quan ở xã La Bằng thấy họ có nhưng chưa biết làm thế nào? Hiện đang "giao khoán" cho các cô giáo!
- Đồ chơi "thác nước vườn cổ tích", không ai biết nó thế nào nhưng phải có. Bà Bình Dân nhà TN hứa sẽ tìm hiểu ở đơn vị chuyên SX đồ chơi tuổi mẫu giáo. Khi nào có thông tin sẽ cập nhật ngay.
- Một bộ loa + tăng âm dùng trong sinh hoạt tập thể ngoài trời.
Mong các khóa khác, Ban LL Trường xem xét. Chúng tôi chỉ hứa với trên Xã là sẽ "lu loa" lên mạng chuyện này. Năm nay 45 năm "liên tục phát triển", liệu Ban LL Trường có sáng kiến gì không?

Thứ Sáu, tháng 6 11, 2010

Oaisss... nhờ

Hôm qua nghe KV nói mới biết anh Hoàng Kim Giao mới được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT. Chợt tôi cảm thấy oaisss trong lòng! Cám ơn anh Giao.
Anh Hoàng Kim Giao học trường ĐHTH Hà Nội, khoa Lý trước tôi... mươi năm. Rồi anh lại cùng công tác một đơn vị với tôi, trước cũng mươi năm. Những người còn lại trong câu chuyện hi sinh của anh tôi biết gần hết. Vì khi anh hi sinh tôi mới bắt đầu vào đại học mà khi tôi về đơn vị thì những người ấy vẫn còn công tác với tôi mãi.
Rồi trước tôi mươi lăm năm anh còn là "người Quế Lâm", theo cách gọi mà sau này đôi khi người ta vẫn "vinh danh" nhau như thế(?)
Đơn vị cũ đã xa xưa lắm rồi, nhưng tôi vẫn tự hào về nó. Tháng 7 tới đây nghe nói còn được mời về dự lễ nhận huân chương nữa kia đấy. Sắp oaisss nữa rồi.

Truy tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sỹ Hoàng Kim Giao

(Về một cử nhân Vật lý ĐHTH Hà Nội)

QĐND - Thứ Sáu, 28/05/2010, 17:15 (GMT+7)

Sáng 28-5, tại Hà Nội, Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự (Bộ Quốc phòng) đã tổ chức trọng thể Lễ truy tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho liệt sỹ Thiếu uý Hoàng Kim Giao. Dự lễ có cán bộ, chiến sỹ của Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự, đại diện thân nhân gia đình đình liệt sỹ và các cựu chiến binh trước đây đã từng chiến đấu, công tác với liệt sỹ Hoàng Kim Giao.
Thay mặt cán bộ, chiến sỹ trong đơn vị, Đại tá Phạm Trọng Hiền, Chính ủy Viện Điện tử-Viễn thông (đơn vị của liệt sỹ Hoàng Kim Giao công tác) đã nêu bật những thành tích, chiến công xuất sắc và đức hy sinh quên mình vì đồng đội của liệt sỹ Hoàng Kim Giao trong cuộc đối đầu với các loại bom thế hệ mới của đế quốc Mỹ. Không quản ngại gian khổ, với trách nhiệm của một nhà khoa học, Thiếu úy Hoàng Kim Giao đã trực tiếp phá 32 quả bom nổ chậm, tháo ngòi nổ của 40 quả bom từ trường phục vụ công tác nghiên cứu. Ngoài ra, để giúp quân và dân ta đối phó có hiệu quả với bom đạn “thông minh” của đế quốc Mỹ, anh và các đồng đội còn có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu tháo và thu đầu nổ MK-42 của bom từ trường MK36, lập bảng tính khung dây cung cấp cho các đơn vị, viết tài liệu về bom chống tăng MK20, bom vướng nổ hình cầu, góp phần xứng đáng vào chiến thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, Thiếu uý Hoàng Kim Giao đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt I năm 1996 về đóng góp giải pháp khoa học công nghệ vào công trình phá thuỷ lôi từ tính, bom từ trường bảo đảm giao thông giai đoạn 1967-1972 cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.


Ghi chú: Hoàng Kim Giao (sinh 1941) học ĐHTH Hà Nội trước k14 có lẽ tới 10 khoá? Khi quay trở lại trường trong một việc gì đó thì thầy Nguyễn Hữu Chí, khi biết tôi về công tác tại Viện Kỹ thuật Quân sự, có nói về Hoàng Kim Giao như một tấm gương học tập rất tốt ở trường. Khi đó thầy biết HKG đã hi sinh trong khi làm nhiệm vụ, 1968.
Xem thêm Truyền thống trường ĐHTH Hà Nội

Thứ Năm, tháng 6 10, 2010

WB khuyến cáo nguy cơ 'nhóm lợi ích' của siêu dự án

Cập nhật lúc 11:03, Thứ Năm, 10/06/2010 (GMT+7)

VietnamNet - "Nếu các tổ chức kinh tế lớn có vai trò mà ta gọi là "vị thế nhà nước", họ sẽ có nhiều quyền lực đến độ có thể tạo ra ảnh hưởng cho những chính sách của chính phủ. Rồi sau đó, chính phủ có thể sẽ đứng về các nhóm lợi ích thay vì lợi ích của nhân dân"... Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới (WB) Martin Rama trả lời câu hỏi liên quan đến dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam.

Phượt Lam kinh (phầncuối)

Khi chúng tôi đang xăm xoi thì có cậu thanh niên hớt hải chạy về, tự nhận là Hướng dẫn viên và hăng hái thuyết trình về khu di tích, vậy là khỏi mất công tìm hiểu, có những vấn đề mà nếu chỉ tự mình nhìn ngó thì không đủ thông tin, cháu đó rất nhiệt tình chỉ dẫn đầy đủ trên sa bàn rồi hướng dẫn tham quan thực địa, thế mới biết khu di tích cũng khá chu đáo, có chỗ gửi xe rộng rãi đàng hoàng, bán vé tham quan, nước nôi, giải khát đầy đủ.
Chúng tôi theo cậu HDV vào khu di tích, cậu giới thiệu đoạn thành cũ ghép bằng đá cuội, chắc là phục chế lại trên nền thành cũ, nó chỉ là một đoạn thành thấp, ngắn. không có mấy ấn tượng. Tuy nhiên bên cạnh nó là sông Ngọc, nối ra hồ Tây, đây là một đoạn hào cũ của Lam kinh thì đúng hơn, nghe nói ở dưới sông có những viên sỏi rất đẹp, có sự tích gì đó mà không ai dám lấy, dù chỉ một hòn. Qua sông bằng một chiếc cầu đá, tôi nhớ là khi làm chiếc cầu đã này đã có rất nhiều ý kiến bàn ra tán vào, cho là bằng đá thì không hợp với cảnh quan, bây giờ đã cũ đi một chút nên nhìn cũng được, khá bề thế. Qua cầu đá sẽ đến cổng Ngọ môn, cổng cũ không còn mà nay đang phục dựng lại, nghe nói đến hơn mười mấy tỷ, đây là chiếc cổng đón các vị vua quan vào sân chầu nên rất hoành tráng, cột gỗ lim đường kính bảy tám mươi phân, cũng đã gần hoàn thiện, nghe cháu HDV giới thiệu chiếc cổng, hai bên dành cho các quan, cửa giữa dành cho vua, các anh nhà mình kiêng dè nên đi vòng, tôi nghĩ đã đến đây thì thử cái cảm giác làm vua đi cửa giữa xem sao, vậy là vén áo bào, giơ đôi chân phàm tục của mình bước qua cái nơi giành cho vua chúa ấy, sướng lắm! cha ơi, vinh quang lắm! sướng nhất là các cha kia không được hưởng cái niềm sướng như mình, kệ cho chúng nó đi trước để một mình mình thưởng thức cái trò vênh vang vay mượn đó, khoái lắm, nếu bạn nào có dịp vào Lam kinh, hãy thử một lần cái cảm giác ấy xem, phê như Chí phèo ấy!
Bên tay phải cổng Ngọ môn có một cây cổ thụ, Cháu nó bảo đây là cây đa thị, đố các bác biết vì sao lại gọi là cây đa thị, chúng tôi nhìn thấy cây đa cao lớn ,xum xuê, rất hùng vĩ nhưng chịu, nó bảo, trước đó có một cây thị, chim chóc ăn quả đa , bay qua ỉa ra hạt trúng cây thị, cây đa nhờ đấy mà mọc lên, lâu ngày bọc lấy cây thị vào giữa và hoà làm một, quả đa sau này có mùi thị mà quả thị có mùi đa, bây giờ cây thị già rồi nên đi chầu ông vải, chỉ còn cây đa và một cành thị ở lại đó.
Bên tay phải trước cổng Ngọ môn có giếng Bán nguyệt, giếng này cũng đã được phục chế lại, chỉ còn một đoạn vách giếng cũ, nghe nói giếng này không bao giờ cạn, hàng chục nghìn binh sỹ cùng múc nước nấu ăn nhưng giếng vẫn đầy nguyên!(xem ảnh TQ chụp)
Qua Ngọ môn sẽ đến sân chầu, đây là nơi bá qua văn võ chầu chực yết kiến nhà vua, từ sân chầu, bước lên thềm rồng này để đến khu di tích cung điện xưa.
Nền đất khu vực chính điện rộng mỗi bề chừng 200 mét, chỉ còn những bệ đá kê chân cột, mỗi bệ đá có chiểu rộng 80 cm, như vậy đủ thấy mỗi cây cột gỗ lim của chính điện phải to lớn thế nào, và qua đó cũng có thể hình dung ra tầm vóc quy mô vĩ đại của công trình, hiện nay theo thông báo thì đã có kinh phí phục dựng cung điện này, chắc phải đến hơn trăm tỷ.
Tiếp theo chính điện là khu nhà Thái miếu, đây là nơi thờ tự tất cả các vị vua triều Lê, từ Lê sơ, Lê trung hưng cho đến Lê mạt, có sáu bảy toà thái miếu gì đó nhưng mới phục dụng được bốn, năm toà, mỗi nhà thờ ba vị, chúng tôi vào đây thắp hương trên những ban thờ còn khá đơn sơ, chưa có bài vị, nhưng anh linh các cụ chắc vẫn loanh quanh đâu đây, còn chỗ nào mà ở nữa, tuy chưa đàng hoàng lắm nhưng có ban bệ rồi . chắc các cụ cứ ngồi thôi, vì nghĩ vậy nên phải thành tâm khấn vái, bổn cũ diễn lại, mấy ông bạn chắc thành tâm hơn mình vì mặt mũi ông nào trông cũng nghiêm trọng lắm, lần này tôi nâng lời cầu khấn lên cao hơn một bậc, mình cầu cho đất nước thịnh vượng như thời các cụ, sau khi chém bay đầu Liễu Thăng, tuy các cụ mỗi năm phải mang sang Tầu cống một người vàng nặng đúng bằng trọng lượng Liễu Thăng( hơn ba trăm năm mươi năm chắc phải vài trăm tấn. Mãi đến đời vua Quang Trung Nguyễn Huệ mới phá bỏ được lệ này)nhưng thằng Tầu hoảng, không dám xâm lược VN cho đến đời nhà Thanh mới lại dở trò. Bây giờ nó đòi cống kiểu mới, dạng bo xịt gì đó, mình nhỏ lẻ, cầu cho có thôi chứ chắc các cụ không nghe thấy.
Phia sau nhà thái miếu là khu lăng mộ, rộng lắm, mỗi nơi cách nhau bốn năm trăm mét, vì thời gian eo hẹp nên chỉ đi viếng lăng cụ Lê thái tổ Lê Lợi, như các bạn thấy trên ảnh, toàn bộ khu lăng tuy nhỏ nhưng thâm nghiêm. Phia ngoài lăng là những hàng cột đá, khu lăng được bao bọc bằng một hàng rào nhỏ, lối đi có hai hàng muông thú, quan lại chầu chực, đầu cổng có mấy con voi nhưng là hàng cúng dường thời hiện đại, lăng là một kiến trúc đá xanh hình vuông cao ngang ngực, chỉ là mộ giả, mộ thật các nhà khảo cổ đã thống nhất xác định là ở giếng Ngọc, cũng ở trong khuôn viên khu di tích, hiện vẫn chưa được phép khai quật.
Trong dãy tượng đá có một bức tượng chỉ còn có một bên, cậu hướng dẫn viên bắt đầu dở giọng VTV3, đố các bác nhận ra đây là con vật gì, ông thì cho là con cóc, ông thì nói là con vượn, cháu nó bảo đấy là con hổ, nói lên cái uy của Lê Lợi, chúa sơn lâm cũng phải quy phục, khép nép như con chi chi, ờ mà nó khép nép thật, bốn vó dúm vào một chỗ, bánh chè lặn đi đâu mất, của này đem nấu cao không chắc đã tốt!
Nơi cuối cùng dến tham quan là nhà bia Vĩnh Lăng, hồi đi học bé tý đã được học về văn bia này rồi, bây giờ mới mục sở thị, nhà bia thì mới dựng sau hoà bình nhưng bia thì là đồ cổ trăm phần trăm, không to nhất nhưng chắc đẹp nhất, càng nhìn càng khâm phục các cụ ngày xưa, làm sao mà chỉ với sức người( chắc là có thêm vật kéo)lại tha được khối đá trầm tích biển nặng hàng gần trăm tấn về cái vùng núi này được. Sau này bạn nào đến tham quan nên để ý nhìn kỹ, còn có những vỏ trai ốc lẫn trong khối đá tạc chú rùa, như kiểu người ta làm granito ấy, nó tạo thành những vân đá rất đẹp. Thằng cháu nó giới thiệu khá kĩ, mới biết ở cái móng rùa cũng có điều khác biệt, không giới thiệu thì không biết được đâu, rùa này hơn rùa thường một móng, mà lại là móng chìm và có ý nghĩa riêng gì đó nữa.
Hoá ra đi trọn một vòng với đích cuối là nhà bia Vĩnh lăng, qua cầu đá là hết, mà quên là cháu HDV nó chỉ tay ra khu hồ Tây, doạ rằng đã có doanh nghiệp ở Hà nội làm dự án khu vui chơi, sân gôn, nay mai là thành Đít nây lần, tha hồ đông vui, không biết các cụ có chịu được ồn ào không?
Có một bài viết về cựu bí thư tỉnh uỷ Quảng bình Nguyễn Tư Thoan, bạn nào quan tâm đến số phận của bác này thì xem ở đây ( xin nói trước rằng đây là web site riêng của tôi, bạn nào không thích thì đừng xem)

Thứ Tư, tháng 6 09, 2010

Lam kinh "phượt" ký (tiếp)

Chúng tôi dừng xe tạm nghỉ tại một quán bia ven đường, thứ đồ uống biểu trưng của dân đô thị đã xâm nhập về vùng quê hẻo lánh này. Nói là hẻo lánh chứ thực ra đã là một khu thị tứ khá đông đúc, quán bia mặt tiền rộng và sâu hun hút vì đất đai thì vô tư. Chúng tôi gọi bốn cốc bia nhắm với lạc luộc, nghe chừng lạc là đặc sản của vùng đất này nên thấy thúng lạc đầy có ngọn, bia thì chắc chắn là sản phẩm của nền kinh tế địa phương, tôi và Mạnh Dũng đều có chung nhận định là không hợp vì đã quen bia hơi Hà Nội, bia này có vị mốc và không thơm nhưng Hoà Thượng thì cho rằng ngon đấy chứ, cái vị mốc đó là vị hoa hupblông, cha này sành ăn chắc nó nói không trật, có điều cố lắm cũng chỉ hết một vại là chán, ông Việt Thắng làm hết cốc thì mặt mũi thành Quan Công, lên xe làm một giấc khoẻ người.
Khi bắt đầu gặp những ruộng mía bạt ngàn thì tin chắc đã đến địa phận nhà máy đường Lam sơn, vậy mà mải vui dưới sự chỉ đạo đường đi của ông M.Dũng thì đã đi quá đến hơn chục cây số, vài lần hỏi thì rẽ đúng vào nhà máy đường, vào thăm nhà ông bạn chung của mấy bố học Tổng hợp, nhà bạn đang xây dựng dở dang vả lại cũng đã đến giờ cơm trưa nên tất cả kéo nhau ra quán. Nói vậy chứ vùng này cũng có vài đặc sản, bữa cơm thân mật diễn ra dưới cái nóng oi bức vì điện đóm lúc lên lúc xuống, mới thấy hạnh phúc cho dân đô thị lớn, tuy đôi lúc mất điện không báo trước nhưng còn tốt chán so với các vùng xa như thế này, đồ điện tử không khéo bán xô cho mấy chú mua "đồ điện bán tất đê" vẫn rao khắp hang cùng ngõ hẻm. Bữa cơm uống với rượu nếp đặc sản Thanh Hoá, thấy giới thiệu vậy. Ấn tượng nhất đối với tôi là món chim quay, những chú chim bé tẹo bằng đầu ngón tay cái được rán vàng, nó độc đáo ở chỗ lòai chim này chỉ sống ở những cánh đồng mía, bắt sâu bọ và rút mật từ cây mía bằng chiếc mỏ tý xíu mà sống nên thịt thơm ngon, tôi thì cho nó là con chim sâu bình thường, chỉ có điều nó sống thành bầy ở vùng mía này mà thôi. Món thứ hai cũng độc đáo vì thấy giới thiệu là món thịt lửng hầm lá lốt, con lửng chắc là một loại họ heo nuôi ở vùng người Mường, miếng thịt lửng hầm chỉ có thịt và da, không có mỡ, da thì dày nghe nói ăn sần sật rất ngon, tôi bó tay vì đau răng, tiếc vì không thực sự cảm nhận được vị ngon của nó. Món nữa cũng đặc sản là dê rang muối, lâu nay thường ăn tái dê, dê xào ớt tỏi chứ chưa nghe nói đến dê rang muối, thực ra có tuổi nên ăn nhạt, nghe nói đến muối thì oải nên xơi sang món đặc sản khác là món "rau tóc tiên". Chỉ nghe nói đến cây lạc tiên, ngọn nó luộc ăn cũng ngon, đây lại là ngọn tóc tiên, chả biết cây tóc tiên là cây gì, ăn cũng được, có vị ngăm ngăm nhưng không có ấn tượng gì. Rau muống, thịt gà, chấm hết. Như vậy là đi xa cũng hiểu biết thêm vài món độc đáo, hy vọng bạn bè cũng có dịp ghé Lam sơn thưởng thức các món này.
Qúa trưa thì vào đến khu di tích Lam kinh, đỗ xe gần một khu đền miếu cắm cờ xí hoành tráng, có bảng đề khu di tích Lam kinh đàng hoàng bèn bảo nhau gửi xe, mua hương vào vái các cụ, cái cổng tam quan nghe như còn mới nhưng khu miếu mạo cũng khá cổ kính. Mỗi người một bó nhang vào cắm rồi tuỳ tâm mà khấn. Tôi thắp vài nén hương cắm lên ban thờ còn khá sơ sài bên dưới bức tượng sơn son thếp vàng của vua Lê Lợi và cả Nguyễn Trãi, thành tâm khấn vái xin các cụ ban cho sự bằng an, ngó sang bên cạnh thấy các bạn cũng đang lẩm bẩm, chắc cũng đang cầu xin gì đó nhưng chắc không ông nào cầu lên chức thủ tướng, về và sắp về vườn cả rồi, đèo bòng chi cho mệt lại mang tiếng quan nhất thời dân vạn đại, cơ mà trong bụng mình lại nghĩ, nếu cầu xin mà được các cụ chấp nhận thì tội gì không cầu, đỡ mất tiền mua quan bán chức để mấy thằng em nó kèn cựa, hí hí.
Vái xong ra ngoài được mấy ông thủ đền nhiệt tình giới thiệu, đền được nhân dân xây nên để thờ cúng vua Lê đã từ lâu đời, tương truyền rằng mộ vua được bí mật táng đâu đó trong khuôn viên đền và cái ao lớn trước mặt, tin sái cổ nhưng cũng có tý thất vọng vì khu di tích gì bé tẹo. Hoá ra không phải, kéo nhau đi quá lên vài chục mét mới bắt đầu hiện ra một khu di tích hoành tráng, đường xá rộng rãi, nhà của to lớn, hoá ra đây mới là khu di tích chính, được nhà nước công nhận và bảo trợ, bên chúng tôi vừa vào là của dân chúng địa phương, ôi cái thời kinh tế thị trường lắm thành phần tham gia kinh doanh, nhà nước và nhân dân cạnh tranh kịch liệt, pó tay!
Chúng tôi vào khu nhà rộng lớn đề là nhà bảo tàng khu di tích, ở đây có mô hình toàn bộ khu di tích, vị trí lăng mộ các vua, nhà thái miếu, cầu đá qua sông, di tích thành luỹ, giếng Ngọc, Ngọ môn, Sân chầu, di tích cung điện, nhà thái miếu, khu lăng mộ và bia Vĩnh lăng v..v.. Ra thế, thật là cũng bõ công vượt hàng trăm cây số để được chiêm ngưỡng nơi phát tích của nhà Lê.(còn tiếp)

Ảnh tư liệu

Theo đề nghị của người cung cấp 2 bức ảnh này, UT đăng lên. Bác nào có thân phụ trong bức ảnh, có thể tải về làm ảnh lưu niệm cho gia đình mình (nếu chưa có). Người cung cấp cũng muốn biết được hết những người có mặt trong tấm hình này.


Theo nhận xét của TQ:
Vào đây để xem ảnh đánh số.
Vào đây để gán tên cho các nhân vật theo số đã đánh.

Thứ Ba, tháng 6 08, 2010

Lam kinh " phượt" ký

"Phượt" là từ giới trẻ ngày nay hay dùng để chỉ một chuyến du ngoạn, tôi cũng mượn tạm từ này để ba hoa về chuyến đi tham quan khu di tích Lam kinh vừa rồi cùng với các bạn. Hữu Thành đã có bài ảnh chi tiết về chuyến đi, ở đây tôi chỉ muốn nói về cảm tưởng cá nhân để gọi là thêm mắm thêm muối, may ra góp ít thông tin cho bạn Trỗi nào "âm mưu" có chuyến đi tương tự, bởi vì nếu có thời gian thì cũng nên làm một chuyến về nơi phát tích của một triều đại lớn trong lịch sử nước ta, mà biết đâu do nhân duyên mà lại được các cụ vua Lê phù hộ độ trì thì khỏi đi xa tận Lạng sơn, Quy nhơn... cầu khấn cho mệt, hí hí!
Tôi tưởng ông Thành cho đi đường 1 hoá ra lại được đi đường Hồ chí Minh, chưa đi bao giờ nên khi bắt đầu vào quốc lộ ở Xuân mai thì ngỡ ngàng vì con đường quá đẹp, đường chiến lược trải nhựa thẳng tắp, êm ru chạy qua những cánh rừng, những dãy núi đá vôi và những bản làng dân tộc Mường mà nay dấu vết chỉ còn lại những ngôi nhà sàn được tân trang bóng nhẫy, còn lại thì đã thành thị tứ cả rồi, ngày xưa hành quân qua những đoạn này thì heo hút lắm, đèn dầu tăm tối bên cửa sổ của những ngôi nhà sàn ọp ẹp, tiếng gà kêu chó sủa buồn như một bản ba lát không có nhịp độ, dân cư vắng vẻ đến nỗi có thể nghe cả tiếng con nai rừng "tác" đâu đó giữa những triền đồi rậm rì cây lá. Đường giao thông mở đến đâu thì ánh sáng văn minh dọi đến đó, hai bên đường dân chúng bắt đầu tụ cư, nhà nhà đều có chảo antent kỹ thuật số, áo cưới cho thuê, karaoke, photocopy và sim điện thoại di động, bia hơi đủ các loại, chẳng khác gì đô thị.
Đường cao tốc có rào chắn cẩn thận trông khá hiện đại, may có ông hướng dẫn viên du lịch bất đắc dĩ vừa lái vừa thỉnh thoảng " Trung thụt chú ý nha, sắp có cầu cạn, đẹp không, biết để làm gì không, là để có chỗ cho thú rừng vượt đường đấy" rồi "chú ý nha, đây là cảnh sơn thuỷ được lấy làm biểu tượng của "Thanh hoá tua rít" . Ờ, non nước hữu tình thế, bên núi vách đá dựng đứng, dưới sông thuyền xuôi ngược, mỗi tội nước hơi đục khác ngày thường, thành ra vẻ đẹp kém phần hấp dẫn một chút.
Con đường thiên lý chạy dài dưới vòng bánh xe quay, tôi ngỡ ngàng giương mắt nhìn cảnh quan hai bên đường, bạt ngàn những ngon đồi mọc một loài cây lạ hoắc, có cờ như ngô nhưng lá đều tăm tắp chọc ngược lên trời, tôi ngỡ là một loại cỏ voi dùng cho gia súc nhưng anh tài xế bảo không phải, nó chính là ngô, vậy chắc là giống ngô mới, cũng đẹp, cầu mong cho bà con nông dân trúng mùa.( còn tiếp )

Thứ Hai, tháng 6 07, 2010

Tang lễ mẹ anh Cát Thịnh

Anh Cát Thịnh vừa nhờ thông báo với các bạn: bà thân sinh mới mất đột ngột do tuổi cao hồi 18h10 Thứ Bẩy ngày 5/6 tại Sầm Sơn (tin buồn đã đưa).

Lễ viếng tổ chức:
- tại Nhà Tang lễ Bộ Quốc phòng 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội,
- thời gian từ 7h đến 9h ngày Thứ Năm 10/6/2010

Lế truy điệu và đưa tang bắt đầu từ 9h cùng ngày.

Bạn Trỗi k4 viếng vào 8h40, xin đến sớm ít phút để tập hợp.

TIN BUỒN

Cụ bà Nguyễn Thị Cát Hải - CCB Sư 320, chuyên viên 4 Tòa án tối cao, vợ LS Nguyễn Cát Phổ (Sư 320, hy sinh 1954), mẹ của Nguyễn Cát Thịnh - vừa từ trần.
Xin chia buồn cùng Cát Thịnh và gia đình.

Chủ Nhật, tháng 6 06, 2010

Lam Kinh

Kế hoạch hai ngày cuối tuần sẽ là một chuyến "nhiều trong 1": thăm anh bạn cùng học ĐHTH Hà Nội xưa, thăm Ngô Hữu Thành có trao máy xóa mù tin học, thăm đền Cờn, thăm Lam Kinh. Thành phần đoàn vì thế ngoài 3 Trỗi học Tổng hợp còn có Quang Trung.
Một ngày trước khi đi thì NgH.Thành thông báo chưa tiện đón tiếp, tin học thì không mù mà máy thì cuối năm sẽ có máy bàn của con trai nhường lại khi lên đời máy xách tay. Thế là chương trình "cụt" mất mấy nội dung, rút lại còn một ngày.

Sau khi rời nhà anh bạn thời đại học, chúng tôi chạy sang Lam Kinh ngay gần đầy. Thấy bên đường là đền thờ vua Lê Thái Tổ bèn ghé gửi xe, vào viếng.
Đây là một cái đền nhỏ, mà lúc sau cậu HDV bên di tích Lam Kinh cho hay, do nhân dân góp tiền dựng nên từ năm 1933. Trong đền ngoài tượng Lê Lợi gian giữa còn có tượng Lê Lai và Nguyễn Trãi hai bên.
Ông từ đền nói chuyện với MD, rằng lăng mộ vua bên di tích là thế thôi chứ xưa nay có ai biết thật để nơi nào; có hồ nghi rằng dưới lòng ao bán nguyệt có 3 cửa am, có thể là ở đó chăng?
Cứ nghĩ rằng gần thế kỷ trước khi toàn bộ Tây Kinh (tên gốc của Lam Kinh) đã bị hoang tàn thì thấy việc nhân dân tự làm đền này để coi sóc cho vị vua tiêu biểu thật là đáng quý. Đến bây giờ Nhà nước đang cho tu bổ, phục chế lại các công trình trong khu di tích thì ngôi đền nhỏ bé này vẫn có giá trị của nó.
Sang khu di tích, chúng tôi vào nhà trưng bày khảo cổ. Có nhiều hiện vật cho thấy công sức và tài hoa của người xưa thật đáng khâm phục. Những kết cấu trang trí bằng đất nung, bằng đá tinh xảo.
Nghĩ rằng những đầu rồng đầu nghê này ngự trên mái cung điện để trang trí thì thấy công trình chắc cũng khá là to lớn.
Tiền cổ, vật dụng sinh hoạt,...
Những chiếc bát mỏng tang.
Khu di tích đang được phục chế. Cây cầu gỗ được thay bằng cầu đá. Ai đó nói rằng có cây cầu đá cổ?
Tam quan
Giếng Rồng với một phần đá kè vẫn từ xưa
Sân rồng hành lễ với bậc đá "cửu trùng" lên chính điện bên trên
Chính điện có diện tích hơn 1700 mét vuông chỉ còn 126 tảng đá chân cột, thiếu độ mươi tảng, đã có kế hoạch dựng lại, nghe nói sẽ khởi công trong năm nay, chào mừng nghìn năm Thăng Long. Đằng sau là 9 tòa thái miếu, nơi thờ hoàng tộc, mỗi "miếu" 3 người, mới làm lại 5 tòa.
Lăng mộ vua Lê Thái Tổ. Rải rác trong khu di tích còn các lăng mộ các vua đời sau, chúng tôi không có thời gian đi thêm.
Hai bên có hàng tượng quan và thú
Bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn lời ký ghi rõ công lao của vua Lê Thái Tổ, đặc biệt là lòng khoan dung với giặc thất trận. Lời bia thật hay nhưng không chuẩn bị máy ghi âm nên nhỡ lõm bõm. Chắc tìm trên mạng sẽ có toàn văn.
Đây là bia được coi là đẹp nhất của VN hiện nay. Đến nhà bia là giáp một vòng. Chào cậu HDV rất nhiệt tình và dễ thương chúng tôi ra về. Hơi áy náy một chút là không biết cảm ơn thế nào cho phải, giá mà có sẵn cái... phong bì :-)
Tham khảo: Theo một số người thì Lam Kinh không phải là kinh đô mà chỉ là khu lăng mộ thờ tự của dòng họ bắt đầu từ vua Lê Thái Tổ. Việc gán cho nó ý nghĩa kinh đô là khiên cưỡng.

Thứ Bảy, tháng 6 05, 2010

Bạn tôi, những kẻ đứng thẳng

Tôi có nhiều bạn, nhưng tự nhiên lại nhớ đến có hai thằng, đều là Trỗi khoá bốn, chẳng có gì đặc biệt, hai thằng này bây giờ ở ngoài đời vô thiên lủng, hai thằng già hom hem về hưu chẳng đến nỗi đói kém nhưng vẫn đang nai lưng hòng kiếm thêm chút tiền còm cùng với vợ nuôi sống gia đình, tuy là hạng phó thường dân nhưng cũng thường hăng hái quan tâm đến vận mệnh dân tộc, gét kẻ nịnh bợ, căm lũ ngoại xâm, coi lũ thờ giặc làm cha như cỏ rác, dẫu biết chẳng làm nên cơm cháo gì nhưng cũng đủ để hả giận và kiếm tìm được sự đồng cảm của những người đồng điệu.
Cả hai thằng cùng học Trỗi, qua những biến cố mà cùng gặp nhau tại Quân cảng Cam ranh vào những ngày giải phóng năm 1975, Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ mới thành lập để bảo vệ Trường sa, mỗi nơi góp một tý, toàn những sỹ quan trẻ mới ra trường,pháo binh ,bộ binh, xe tăng, công binh, bác sỹ .vvv... Trường sa đang vẫy gọi, đất nước vừa mới hoà bình, chỉ mới nghỉ ngơi được hơn tháng là lập tức sẵn sàng ra đảo, thật là hăng hái và vô tư!
Thằng thứ nhất là thằng Tt, cậu vừa được tốt nghiệp sớm vài tháng, quân hàm còn đen ngòm, bỏ mặc sau lưng mấy năm chiến đấu gian khổ để lại xách ba lô về nơi đầu súng ngọn gió mà không một lời oán thán, ngay những ngày đầu, cậu được phân công làm trung đội trưởng một trung đội đkz lên tầu thẳng hướng Trường sa, đơn vị cậu đặt chân lên Sinh tồn từ khi những đàn chim hải âu thấy người là chạy đến đòi bế!
Thằng thứ hai tốt ngiệp bác sỹ quân y, mặt nó còn đầy trứng cá khi ôm balô xuống tàu làm bác sỹ trưởng đảo Trường sa lớn, lạ nước lạ cái, chưa bao giờ "độc lập tác chiến" vậy mà bao nhiêu tình huống nan giải giữa biễn khơi của mấy trăm con người, nó đều từng bước giải quyết ổn thoả, chu đáo, xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ giữa những tình huống ngặt nghèo, nó tên là D.L mà chỉ bấy nhiêu lời của tôi cũng chưa đủ một phần 10 những điều cần nói.
Sau một thời gian phục vụ cả hai thằng đều trở về đời thường, về sống làm người công dân lương thiện, tự đứng trên đôi chân của mình, chẳng muốn nhờ vả ai và cũng chưa có ý định nhờ vả ai cho cuộc sống riêng của mình, bởi vì cả hai thằng đều là cựu Trỗi, lòng tự trọng cao ngất ngưởng, bây giờ vẫn thế, không sung túc bằng người nhưng tự hào vì mình đã làm được điều gì đó, sống chân thật với anh em, gia đình hạnh phúc, đàng hoàng ngẩng cao đầu mà tự hào rằng :Ta là loài tùng bách, sừng sững giữa trời và không thèm luồn cúi nịnh bợ ai.

GIAOBAN CAFE

Mời các bantroi và những người bạn tham dự buổi gặp mặt-giao ban.
Địa điểm Café MẮT VÀNG 21/3 Lý Chính Thắng Q3 TP. HCM
Thời gian : Chủ nhật,sau 08 giờ ngày 0 6 tháng 6năm 2010
ĐÔI KHI – MẮT VÀNG…Kính mời

TRUNG LIÊM

Thứ Năm, tháng 6 03, 2010

Một lính Trỗi K4

Như tin đã đưa, vừa qua Lê văn Đạo, chuẩn đô đốc, phó tư lệnh Hải quân Việt nam, bạn Trỗi k4 đã có chuyến công tác đến các đảo của Việt nam ở Quần đảo Trường sa thân yêu của Tổ quốc, bạn đã thay mặt nhân dân và quân đội tổ chức lễ truy điệu và tưởng nhớ các chiến sỹ Hải quân VN đã anh dũng hy sinh để bảo vệ biển đảo năm 1988, mời các bạn xem một số hình ảnh của buổi lễ và bài viết đăng trên báo quân đội nhân dân. (Trích báo Quân đội nhân dân) Khúc lặng biển xa Đến xã đảo Sinh Tồn và thị trấn Trường Sa, tôi chứng kiến những giây phút thật xúc động: Xuồng vừa cập bến, các cháu thiếu nhi đã ùa tới, líu lô chào hỏi khách như người thân lâu ngày gặp lại. Chị Trần Thị Thanh Nga, nhà ở thôn Sinh Tồn lớn bộc bạch: “Nghe tin hôm nay có đoàn từ đất liền ra thăm đảo, chúng tôi mừng lắm, cả qua đêm phấp phỏng chờ trời sáng…”. Còn nhớ, hôm ở đảo chìm Đá Lát, khi Đoàn công tác chuẩn bị về tàu, Đại úy Trần Nhật Linh, đảo trưởng, đã có một mong muốn gây xúc động nhiều người: Đề nghị đoàn hãy nán lại 30 phút nữa để anh em lính đảo được hưởng thêm hơi ấm đất liền! Những người đang sống mong ngóng hơi ấm đất liền, và những liệt sĩ đã vĩnh viễn nằm lại giữa biển khơi vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam chắc cũng bớt cô quạnh trước những cuộc viếng thăm thường xuyên hơn… Tôi đã được chứng kiến Lễ tưởng niệm thật trang nghiêm, xúc động trên boong tàu HQ 960, gần khu vực đảo Cô Lin và Gạc Ma. Chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo, Phó tư lệnh Quân chủng Hải quân giọng nghèn nghẹn: “Chính tại nơi đây, hơn 60 cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân nhân Việt Nam đã anh dũng hy sinh… Mặc dù Quân chủng đã làm hết sức mình, nhưng do hoàn cảnh, đến nay nhiều đồng chí vẫn phải nằm lại với biển khơi, với quần đảo quanh năm chịu nhiều bão tố. Các anh ra đi vì Tổ quốc, nhưng để lại bao nỗi nhớ thương, bao niềm hy vọng khi những người thân vẫn đau đáu bên cánh cửa mong đón các anh về…”. Nhiều người tham gia lễ tưởng niệm bật khóc! (Mượn tựa đề của Chí Quang, Ảnh và Video do Đức Hải k8 cung cấp)




Thứ Tư, tháng 6 02, 2010

Tin nhanh Đức Cường

Thanh Bắc hôm nay ghé thăm Đức Cường đang điều trị trong Viện Qy 354. Tìm mãi mới thấy, giờ Đức Cường chuyển sang Khoa Hồi sức Cấp cứu, ngay gần lối vào.
Tình hình chưa có gì rõ rệt. Lần trước chúng tôi vào là Đ.Cường nằm phòng CC khoa Nội Cán bộ, giờ vẫn CC.
Báo để các bạn biết.

Lời mời gọi... thảm thiết :-)

...của Ngọc Việt do HH kể lại.

Thực ra thì từ hôm Chủ Nhật đã nghe ĐC nói. Hôm nay lại nghe HH nói NgV gọi mấy hôm liên tục. Có gì đâu, vải chín rộ, dứa cũng chín rộ, cậu gọi anh em lên lấy.
Kể ra cứ ngồi nhà mà có người dúi vào tay cho chùm vải, quả dứa chín mọng thơm lừng thì cũng khoái đấy. Nhất là của bạn cho.
Nhưng mà lo xe cộ chạy lên, mất buổi ngồi văn phòng máy lạnh gõ bàn phím nhìn màn hình để lên lấy ít hoa quả từ xứ đồi mất điện. Lại còn lo làm sao chuyển tới tận tay "người tiêu dùng". Mệt!
Thôi ạ, vợ chồng mày lo bán đi. Của bạn cho là quý nhưng mà đi lại mệt mỏi lắm. Thay mặt anh em cám ơn nhiều.
Mà ai lên NgV lấy quả về cho tôi thì tôi lại cám ơn nữa, he he...

Thứ Ba, tháng 6 01, 2010

Thông điệp 1/6




HÃY ĐỂ CHO TRẺ EM VẪN ĐƯỢC LÀ TRẺ EM !

Thứ Hai, tháng 5 31, 2010

Trận Lũ Năm 1966

Huỳnh Xuân Thủy

Đã lâu lắm rồi có những cái quên, nhưng còn nhớ chút ít, xin kể lại mong mọi người lượng thứ nếu có sai sót.

Ngày ấy, khái niệm " lũ ống ", " lũ quét " chưa có chỉ nghe thầy và các bạn ở rừng Sơn La - Lai Châu kể lại ... như mơ ! Thế rồi một ngày cái gì " phải đến " nó đến.

1. Mùa mưa năm 1966,

Ngày ấy vùng rừng Yên Mỹ - Đại Từ còn rậm lắm không như bây giờ cây vài người ôm phủ kín rừng là chuyện thường ngày ở huyện. Chiều sương mờ giăng giăng đỉnh núi, mây lãng bảng bay. Buồn ! Chiều ấy: mọi người ở B2C8 bên " Cồn Cỏ " đi qua cầu sang bên kia suối ăn cơm như thường ngày. Trời bỗng xám xịt, mây vần vũ. Gió và gió, mưa nặng hạt dần, mọi người ăn vội vàng để về bên kia suối. Gió thổi mạnh hơn, mưa dày hơn. Cả bọn chạy vộ qua cây cầu là một thân cây đường kính khoảng 5-60 phận bắc qua suối. Nước suối dân cao ... cuồn cuộn chảy. Cả bọn thu mình trong nhà nhìn ra suối, ra sân. Mưa ngày một to hơn, gió mạnh hơn. Cành cây gãy răng rắc. Thế rồi, nước bất thần ập về, chảy xiết. Đá dưới suối lăn cùng cục,... cùng cục. Nghe rợn người. Nước mấp mé phản nằm, ba lô được chuyển lên ở sạp nứa gác giữa hai vì kèo. Một phản nữa rồi phản nữa kê lên. Nước cứ cuộn chảy xiết. Bỗng đâu rắn bơi theo dòng chảy vô nhà cả bọn hét lên nhảy cả lên phản đứng. Thế rồi ngôi nàh rung lên sau một cái đập của đá suối lăn vào cột. Tường đất ngấm nước, rã ra ... trơ những que nứa tép hình ô vuông, trống hoác.

2. Cuộc hành quân bất đắc dĩ:

Nhà ăn và kho quân lương bên kia suối được lệnh chỉ huy dời lên đường cái quan, nhưng công lao mấy thàng trời đi rừng chặt củi giờ lũ cuốn phăng hết.Cả mấy chục khối củi xếp ngay hàng bên kai suối, cao lút đầu người, giờ lũ cuốn hết theo dòng nước. Cây cầu độc mộc cũng bị nước cuốn phăng. Nước mưa quất vào mặt rát bỏng, tình hình trở nên cấp bách. Thầy Bân-C trưởng khoác áo mưa, đứng bên kia suối, cầm loa pin ra lệnh: Trung đội 2 phải khẩn trương di chuyển vào Đồng Cháy, lên đồi cao ngay ! (Tôi không nhớ thầy lệnh cho ai, cái này phải hỏi thêm mấy bạn ở B2, nhất là Tương Lai và Ngô Hùng) Ban chỉ huy trung đội chỉ kịp hội ý chớp nhoáng cử Ngô Hùng cao nhất đi trước cầm đèn pin, các bạn đi sau mỗi người cặp nách 1 cây với bạn đi trước lần mò đi trong đêm. Nước chảy xiết, ngập trên bụng nên không mang ba lô được phải đội cả lên đầu, mỗi người che thân bằng 1 tấm ni lông xám bì bõm lội, trong đồng nước trắng xóa. Mưa, gió rét run cầm cập, mọi người lần mò trong đêm tối ... Hơn 21 giờ tonaf trung mới đến đồi bưởi trong Đồng Cháy. Ngày xưa, đây là một bản doanh trồng ngô và sắn mọi người hay thấy khỉ xuống bẻ trộm ngô. Ai quần áo ướt sũng, môi tím ngắt, run cầm cập ... chỉ có đôi mắt còn sáng. Cả bọn mệt nhoài, cởi hết quần áo treo lên đầu nhà, góc bếp, rồi vào chỗ tối nhất thay quần lót. Có đứa quần áo, ba lô ướt sũng hết, đành tụt quần vắt cho khô rồi mặc lại, rồi nhóm bếp chất củi đốt hơ cho đỡ lạnh, rồi nằm lăn ra ngủ ...

3. Ngày trở về

Sáng trời quang mưa tạnh. Ánh nắng chói chang chiếu vào mặt. Cả bọn bừng tỉnh dậy, vội vàng đánh răng rửa mặt, vội vã chào các gia đình. Hạ sơn ! Quần áo sắn cao, nhưng đa số chỉ mặc quần đùi, quần dài vắt cổ, tháo giày, dép đi chân đất. Đường nhão nhoẹt, trơn trượt. Bùn dính đến mắc cá chân, bước 1 bước lại phải nhấc chân sau lên ... chỉ vài cây số mà đến trưa mới về được đến nhà. Một cảnh tượng tang hoang như sau ... lũ ! Tường nhà dưới chân trống huơ trống hoác. Rác rưởi cành cây khắp nhà, khắp sân, đá ở suối nằm lăn long lóc khắp nơi. Cây cầu độc mộc không còn nữa, nươc mênh mang, đục ngầu !

Chúng tôi để tạm đồ đạc lên phản trên cao rồi múc nươc rửa các phản quét dọn trong nhà ngoài sân , phơi những thứ ẩm ướt lên dây phơi, cành cây, tảng đá ... chỗ nào phơi được thì phơi vì hết chỗ phơi rồi ! Nhà ăn, nhà bếp, kho quân lương giờ đây biến mất, tang hoang như sau bão. Chúng tôi thẫn thờ nhìn vào khoảng không trống vắng xa xăm mà tự hỏi : Trời, sao kinh khủng thế ! May mà chúng tôi ở lại thì chắc giờ này có bạn bị cuốn trôi ra tận ĐạiTừ rồi !

Đã 44 năm trôi qua, kể từ ngày ấy ! Bây giờ những thằng " oắt con " ngày ấy, phần lớn đã về hưu lên chức ông bà rồi. Nhưng trận lũ quét đó lại in sâu vào ký ức không quên, như những ngày " tuổi thơ dữ dội " của học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi ngày ấy !

Quy nhơn, ngày 1 tháng 6 năm 2010

Ảnh xã Mỹ Yên, vị trí B2 và Đồng Cháy

Bạn tôi (B2), một lính Trỗi

Gã là giáo viên rồi trưởng khoa Pháo trường Sỹ quan Kỹ thuật Pháo binh. Đây là thời kì không ai sống nổi bằng đồng lương. Gã còn “tủi” hơn: vợ giáo viên, chồng cũng “một thứ” giảng dạy – chả có gì để “sàng sảy”. Bữa cơm chỉ biết lấy rau dưa, đậu “chính”, canh “toàn quốc” làm chủ đạo. Gã suy nhược. Gã tưởng gã bị bệnh bởi cứ sau mười rưỡi sáng là trời đất trước mắt gã bỗng ngả màu vàng (cho tới lúc vô họng được muỗng cơm trưa).

Gã lộn ngược túi, được ít tiền, đi mua chiếc máy tiện thiếu nhi Liên xô, lắp ráp thêm các chi tiết tự động (có “sẵn” trong hàng mớ súng pháo Mỹ phế thải), thế là chiếc máy tiện tự động ra đời. Biết nhà máy thuốc lá khan hiếm chi tiết “răng cào lá thuốc” nhưng chẳng tìm ra nguồn vật tư thay thế định kì, gã bèn nhận làm nhà cung ứng. Ở nhà, vợ gã vừa soạn bài, chấm bài, vừa nội trợ, vừa là “công nhân” đứng máy tiện. Gã là Kỹ thuật tiện, kiêm KCS (hồi đó gọi là OTK), kiêm “công nhân” tôi-ủ. Vợ gã giảng giải: “Máy tự động, nhàn lắm, cứ cặp phôi, nhấn nút là nó chạy. Nghe còi báo là xong một chi tiết. Mỗi ngày nhà em sản xuất được cả rổ răng cào”. Hết hợp đồng “răng cào”, gã cải tiến máy mài thông thường thành máy mài kính quang học và chuyển sang mài kính mặt nạ hàn điện, ... Cứ thế, gia đình gã đủ sống cho tới khi xã hội được “cải tổ”.

Các thủ trưởng nói nếu gã chịu cực một chút thì cái ghế phó giám đốc trường sỹ quan sẽ vào tay gã. Gã ngẫm nghĩ, gã so đo, rồi phát: “Nay là thời kì làm kinh tế, khẩu hiệu “tất cả cho chiến trường” qua rồi, vậy tôi xin đi thực tế (ra quân)”. Gã ra quân, chạy kiếm việc làm muốn rớt cặp bánh chè, nhưng chỉ nhận được những lời hứa hẹn – Sài gòn đất chật người đông. Gã bỏ lên Bảo lộc kiếm việc làm. Ở đó, gã làm kỹ thuật viên, lần hồi lên sếp. Lâu lâu gã theo xe đò về Sài gòn thăm sắp nhỏ, đo xem chúng cao thêm được mấy phân, giúp vợ vài việc lặt vặt, rồi tất tả … ngược. Chín năm đằng đẵng, cuối cùng gã đủ điều kiện để về xuôi với vợ con. Gã giữ chức giám đốc một công ty nát be nát bét bên kia cầu Bình triệu. Cuộc chiến đấu mới lại bắt đầu. (Hiện công ty gã đã ăn nên làm ra và gã đã “chiếm” được cổ phần quyết định trong công ty).

Tóm tắt quá trình công-tư tác, gã nói, gã khâm phục vợ gã về cái đức hi sinh vì chồng con, bởi “hồi chín năm”, ngoài sự thiếu thốn tình cảm thì vật chất mà gã mang về thực tình chả có là bao. Gánh nặng gia đình đổ tiệt lên vai vợ gã (một cô giáo Nga văn “đành phải” chuyển sang Anh văn – sau khi Liên xô sụp đổ) nhưng vợ gã vẫn kiên cường gánh vác mà không hề than vãn một câu. Gã tâm sự với tụi tôi: “Tui thành công (nếu các ông cho là như thế) bởi tui có Hậu phương vững chắc”.