Thứ Bảy, tháng 1 12, 2008

KỶ NIỆM


Chào các Bác và các bạn. Tối nay tôi lại "Lọ mọ" ngồi gõ để kể cho các Bác và các bạn nghe kỷ niệm của tôi về một thằng bạn Trỗi. Hy vọng nó đến kịp sáng mai, để ở đâu đó khi nhâm nhi ly cà phê giữa cái se lạnh của tiết trời phương Bắc bên Laptop, hoặc phì phèo điếu thuốc bên máy tính tại nhà trong ngày nghỉ cuối tuần, các Bác và các bạn sẽ đọc. Tôi cố mong nó sẽ đem lại cho các Bác và các bạn một điều gì đó vui vui, nhớ nhớ, có chút gì đó đau đau của nhân tình thế thái .... Tuỳ các Bác và các bạn cảm nhận.
Ngày nào tôi cũng đọc hết tất cả các bài cũng như lời góp trên Diễn đàn của chúng ta. Trước khi tham gia làm thành viên của Blog, tôi có hứa với Anh HT là sẽ không viết bài gì có nội dung ảnh hưởng tới diễn đàn chung - không vi phạm văn hoá Việt, không ảnh hưởng tới chính trị ... nói chung tôi hứa nhiều. Các bác có biết anh HT Mail trả lời tôi như thế nào không? Chỉ có mấy chữ: "Chỉ cần cậu là học sinh trường Trỗi" Là đủ. Thật cảm động, chẳng phải ngẫu nhiên mà ông trùm Maketing của thế giới đã nói "Thương hiệu quyết định tất cả". Thật tự hào chúng ta đã có khoảng thời gian quá đẹp của tuổi thơ được sống bên nhau, hãy trân trọng và giữ gìn nó các Bác và các bạn nhé.
Hôm nay tôi gửi tới các Bác và các bạn phần đầu của câu chuyện. Chuyện này tôi viết cũng lâu rồi nhưng nay thấy nó gần tết cũng có vẻ hợp, nên tôi có sửa đôi chút cho nó "cập nhật" và gửi đi. Tôi bắt đầu nhé:

Chưa năm nào lạnh như năm nay, chỉ còn ít ngày nữa là tết, mấy anh em trong cơ quan ai cũng chắc mẩm năm nay sẽ được đón một cái tết miền Bắc ngay giữa Sài Gòn. Mấy mươi năm rời Miền Bắc, những tháng năm chiến tranh, những ngày tháng sau hoà bình ngược xuôi bươn trải ở mảnh đất phương Nam không còn có lúc nào để cho tôi kịp nhớ về cái tết nơi chôn rau cắt rốn của ông bà cha mẹ mình nữa.

Chiều nay trên đường từ cơ quan trở về nhà tự nhiên tôi thấy buồn, một nỗi buồn mơ hồ chẳng rõ ngọn ngành. Tiết trời lạnh lẽo cộng với lòng người ủ ê vì năm nay tiền thưởng tết cơ quan chia cho chẳng được bao nhiêu, chán đời tôi như người mộng du mặc cho dòng người trên đường cuốn đi.

Đang mơ màng tôi bỗng giật mình bởi hình như có ai đó đang gọi:

- Anh gì ơ ơ ơ ……… ơi!

- Đúng! rõ ràng có tiếng phụ nữ gọi mình.

Vốn lớn tuổi cộng với mắt mũi kèm nhèm từ bé, hậu quả của những năm tháng sơ tán trong chiến tranh khi không quân Mỹ đánh phá miền Bắc. Lúc đó tôi đang học lớp ba, bố thì đi chiến trường, thời đó gọi là đi B. Trước khi vào chiến trường Bố tôi là phó tư lệnh một quân khu trọng yếu vùng duyên hải phía Bắc, mẹ thì bận bịu với hàng đống lo toan. Tôi như người tự do, ngoài một buổi đi học thời gian còn lại tôi mặc sức theo bọn trẻ trong xóm mò tôm, bắt cá, ngụp lặn ở con sông ven làng lúc nào cũng ngầu đỏ phù sa nên bị đau mắt hột.

Cho tới khi tôi học lớp năm, lần đầu tiên trong đời tôi phải xa nhà lâu đến thế, suốt bốn năm xa nhà, học ở trường thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, cho dù được chạy chữa chu đáo, nhưng mắt tôi chỉ cải thiện được phần nào. Sau này trở thành người lính tham gia chiến tranh, rồi những năm tháng học đại học, những năm học ở nước ngoài, ánh sáng của đèn Neon càng làm cho thị lực mắt thêm suy giảm, cho nên tôi cũng chẳng nhìn rõ người phụ nữ gọi mình vừa rồi là ai.

Vốn chạy xe chậm như rùa bò, tôi thường bị anh em trong cơ quan chửi vì phải chờ trong những lần hiếm hoi, tập toẹ theo anh em đi uống bia ôm. Đến độ thằng tổ phó ở cơ quan, nó rất quí tôi, thế mà có lần nó buộc phải chân thành góp ý “thốc” vào mặt như thế này: “Nói ông đừng buồn, thấy ông hiền lành, hay giúp đỡ anh em,lại chẳng bao giờ biết hại ai trong cơ quan, cứ một mình lủi thủi thân cò, sợ ông buồn nên thỉnh thoảng đi chơi anh em bảo nhau lôi ông đi luôn. Thứ nhất là để ông tiếp cận tham khảo tí thực tế cho nó sáng cái đầu của ông ra, thứ nữa là cũng muốn ông vui lây với cái vui của thiên hạ thời mở cửa, xem nó méo mó, tròn, vuông như thế nào, chứ chả phải anh em tuị tôi tiếc gì ông hớp bia. Ông cũng nên hiểu rằng, đi uống bia kiểu này nó khác chứ không như uống kiểu “Classic” truyền thống – Ngon, lịch sự, lãng mạn như kiểu uống ở nhà hàng bia Đức nổi tiếng, xứ Babaria - “JODEE” của một đại gia nhập toàn bộ dây chuyền cũng như công nghệ từ Đức về thành phố một vài năm gần đây (Tôi tự hào ngầm trong bụng, của ông anh tao chứ của ai) cho nên phải linh hoạt, nhanh nhẹn và phải có chút máu thám tử thậm chí cả tháo vát nữa. Tôi nghĩ bụng: “Mẹ nó chứ! Đi uống bia chứ có phải đi thi hoa hậu đâu mà lắm tiêu chuẩn thế”. Ông thì “Đầu chầy đít thớt” chẳng đoàn, chẳng đảng, chẳng thanh niên, phụ nữ gì thì nó dễ, chứ chúng tôi ấy à, chẳng may vớ phải thằng nào chơi đểu, có máu trả thù vặt, mẹ tiên sư! nó mà nhìn thấy tụi tôi thập thò buổi tối mạn Gò Vấp hay Thủ Đức không khéo nó vu toáng lên là bọn tôi vi phạm vào mười chín điều “Cấm kị” thì có phải là bỏ mẹ không. Có mà lấy cám mà cho vợ, cho con ăn. Cám vẫn còn đỡ vì vẫn còn được ăn, mà lại là cám của mình, chứ đi ăn xin, ăn mày nhờ vả người khác trong khi ngần này tuổi đầu thì nhục lắm, thà chết quách đi cho nó xong, con cái nó còn có tí tiền tử tuất. Hơn nữa tiện đây tôi cũng chả dấu ông làm gì, như ông cũng biết, cửa hoan lộ của tôi đang“ Sáng”, tôi nói nhỏ chỉ mình ông, cấm nói cho ai biết đấy nhé. Con mẹ thầy bói chùa Bà đầu năm ngoái nó bói tôi một quẻ mà tôi nghiệm đúng y phoóc. Ông còn nhớ bữa tôi chiêu đãi anh em một chầu Cầy tơ Thị Nghè cái đận mà tôi nhận quyết định làm tổ phó đội sản xuất sau gần ba mươi năm cật lực “ phấn đấu, phục vụ” trong ngành hàng không, ông còn nhớ không? Cho nên tôi ngại những chuyện lôi thôi ảnh hưởng đến “sự nghiệp” của mình lắm. Vậy nên tôi khuyên ông, nếu tụi tôi có thỉnh thoảng có đi “Văn nghệ” tý chút mà không rủ ông đi theo thì ông cũng thông cảm, đừng buồn, chứ cứ lằng nhằng, dắt díu nhau, chờ đợi, chậm chạp rùa bò như kiểu chạy xe máy của ông rồi có nước chết cả đám.”

Tôi vội vàng thắng chiếc xe cà khổ, thế mà cũng phải mất đến mấy mét chiếc xe mới chịu dừng lại. Nói các Bác đừng cười vì bộ Thắng xe, tôi “Mới” thay được ba, bốn năm nay. Đang ngơ ngác tìm cách dắt xe về phía người phụ nữ, trong khoảnh khắc dù không rõ ràng do mắt kém và trời lại nhập nhoạng tối nhưng tôi cũng kịp nhận thấy người phụ nữ mà tôi lầm tưởng là cô ta gọi mình đã cầm tay một gã đàn ông trông còn hom hem hơn tôi lôi tuột vào quán Café tối thui nằm ven đường, thì ra thằng cha đó chạy xe ngay phía sau tôi, nên mới ra nông nỗi “Trông Gà hoá Cuốc” như vậy, thật hú hồn.

Phố xá đã lên đèn, đường phố cuối năm thật nhộn nhịp, Sài Gòn vẫn hối hả như thói quen vốn có của nó, hướng về ngã tư Phú Nhuận tôi kéo mạnh tay ga chiếc xe cà khổ lại ngoan ngoãn lết đi.

Về đến nhà bực mình vì con chó Nhật cứ sủa toáng lên, chẳng hiểu hôm nay làm sao mà con chó lại tự dưng dở chứng, không phân biệt được ai lạ, ai quen, nó cứ gầm gừ hai mắt nhìn tôi soi mói như nhìn vật thể lạ từ hành tinh xa xăm nào đó lạc xuống. Chờ một lúc mới thấy thằng con ra mở cổng.

- Con chào Bố! Sao hôm nay Bố về muộn thế, mặt lại ỉu xìu như “mất sổ gạo” vậy?

Tôi giật mình, lạ thật! Chẳng hiểu sao câu nói cửa miệng ngày xưa, từ cái thời bao cấp mà mỗi lần kể chuyện vui của vợ chồng tôi về quá khứ để ám chỉ những“nỗi đau” khi ta có những mất mát “Qúa lớn”,chẳng hạn như mất tiền bạc, hoặc bị tay nào chơi xỏ nẫng mất người tình, hoặc lỡ bỏ mất cơ hội tiếp cận “Xếp” khi kì xét tăng lương sắp đến … Đã lằn sâu vào đầu óc con trẻ, lúc này đây, nó vận vào hoàn cảnh của tôi sao mà “Tuyệt” thế.

-Thằng này giỏi, sao biết Bố “Mất sổ gạo”? Tôi dè dặt hỏi.

Thằng con trai tôi vốn ranh ma, chuyện gì riêng tư của tôi nó cũng đoán ra. Cũng có lẽ bởi chúng tôi quá thân nhau, chúng tôi thường hay trao đổi về những chuyện trên trời dưới, biển mà hàng ngày đầy rẫy trên Internet và sách báo. Vợ tôi thường cảnh báo:“Anh đừng chiều con quá mà nó sinh tật”. Các bác tư vấn hộ em xem, máu em thì thích bóng đá mà ngặt nỗi những giải hay, những trận so giầy kinh điển lại chỉ có trên kênh nước ngoài, mà tiếng Anh thì khoản này em mù tịt, mà phải nghe bình luận trực tiếp của bọn “Tây”nó mới sướng. Nên em phải nịnh, phải chiều thằng con em, nó mà không phiên dịch cho, mà chỉ ngồi xem toàn chân với cẳng, không lời bình thì có khác nào lâu lâu ăn sáng mì gói nóng bụng, chẳng may vớ được một ngày đẹp “Giời” vợ “ nhẹ tính” đi, dúi cho mấy đồng bạc, dục lên mạn Bát Đàn ăn phở cho nó đổi món. Ăn phở mà các bác tính không dấm, không ớt, không hành tỏi, thì nó còn ra cái đếch gì nữa. Nó khổ thế đấy, các Bác bảo em có nên nghe theo lời khuyên của vợ hay không?

- Cứ nhìn mặt Bố là con biết liền.

Thằng con tôi nó trả lời và nhìn tôi với án mắt nghi ngại.

Dựng xe, bước vào nhà tôi liếc vội vào chiếc gương soi treo gần cửa. Đúng thật, trông mặt mình hôm nay nó thế nào ấy, vừa như thiếu tự tin, vừa như thảng thốt, như vừa mất một cái gì đó. Mà đúng thật, còn hơn là “mất sổ gạo” nữa ấy chứ, tôi nhẩm tính so với năm ngoái tiền thưởng tết năm nay chỉ bằng một phần ba, cộng với vưà rồi phòng tổ chức lao động tiền lương của cơ quan nó đòi bổ xung bằng cấp chuyên môn. Bằng tiếng Nga của tôi thì nó chỉ coi là đồ vứt sọt rác. Công việc chuyên môn, tài liệu kỹ thuật bằng tiếng Anh, vi tính phần lớn anh em trong cơ quan phải tự học để đảm đương vị trí công tác, chẳng mấy ai chú ý phải kiếm cho mình mảnh bằng tin học hay anh văn. Thậm chí có thằng trong cơ quan nó còn bắt phải nộp cả bằng tốt nghiệp phổ thông hệ mười năm từ những năm 60 của thế kỷ trước. Thật chẳng khác nào chuyện có hai ông bà già về quê lỡ độ đường vào khách sạn nghỉ qua đêm, Giám đốc khách sạn dứt khoát bắt hai người phải có giấy hôn thú thì mới cho ngủ chung phòng, thế là hai ông bà già mất toi hơn hai trăm ngàn cho cái việc “Bỏ quên”giấy tờ tuỳ thân ấy.

Vì không có bằng vi tính và Anh văn mà tôi cũng như nhiều anh em khác trong cơ quan bị trừ điểm, số điểm bị trừ quy đổi thành tiền thành thử ra tiền tết năm nay đã ít lại càng ít thêm. Các bác thử nghĩ hộ tôi xem, như thế chẳng phải là mất hay sao? Còn hơn là“ mất sổ gạo”nữa ấy chứ.

Cơ thể tôi bỗng thấy rã rời, không biết rồi sẽ phải giải thích sao đây với bà vợ “lớn tuổi” mà có những “thời điểm” bà ấy coi tiền bạc quan trọng hơn tôi, nhất là vào thời khắc này, cần tiền tiêu tết.

Vứt phong bì tiền vừa nhận được chiều nay ở cơ quan ra bàn, tôi với tay lấy chai “Cuốc lủi”mà thằng bạn Trỗi cũ mới gởi ngoài Hà Nội vào cho. Ực! Tôi ngửa cổ làm một hơi, hương vị của thứ rượu làm từ loại gạo nếp đặc biệt giúp tôi tỉnh táo và minh mẫn hẳn ra, nó cũng là thói quen của tôi mỗi khi có “Vấn đề” với vợ. Chẳng hạn, đôi khi theo bạn bè đi nhậu đêm về muộn, hoặc có lần tôi nổi máu liều, hứng chí theo con bồ già tếch đi Vũng Tàu chơi mấy hôm, nói dối vợ là đi công tác đột xuất … Đại loại là trong những trường hợp tương tự như vậy để lấy tinh thần chuẩn bị trả lời trước những câu hỏi như móc họng của vợ.

Để kéo dài thời gian và cũng là để nghĩ mưu, tôi liền cởi quần áo lao vút vào trong Toalet.

- Trời ơi! Sao tháng này được có từng này tiền thôi ư?

Ngồi trong Toalet mà mồ hôi tôi vã ra khi nghe tiếng trì triết của vợ từ ngoài vọng vào.

- So với tháng trước thì tháng này thiếu những 500.000 đồng, tiền của tôi ông đem đi đâu? Không đem về cho tôi thì đêm nay ông muốn đi đâu thì đi.

Lòng tôi như lửa đốt, nói thật thì không dám vì sợ ngượng với vợ và còn mặt mũi nào mà nhìn thấy con, thằng con mà tôi suốt ngày lên lớp với nó rằng “Thời buổi này không có vi tính và ngoại ngữ thì coi như đồ vứt” Tôi bỗng chạnh lòng, không lẽ mình cũng là đồ bỏ. Không! Không thể như thế được. Nếu vào một ngày nào đó xúi quẩy rơi vào hoàn như tôi bạn sẽ trả lời sao đây, khi đó bạn mới thông cảm cho hoàn cảnh “ngặt nghèo” của tôi lúc này. Tôi đành ngồi im chịu trận, và nghĩ cách trả lời. Cũng may là tôi đang ngồi trong Toalet, cuối cùng câu nói mà tôi hay đùa thằng con “Thông minh đột suất, ngu bất thình lình” đã loé sáng trong phút giây tưởng như bế tắc ấy.

- Tháng này vì thời tiết nước ngoài lạnh do hiệu ứng Enina nên máy bay đến nước ta ít đi vì vậy vé bán được ít, doanh thu giảm, cộng với có tin đồn là BinLaDen vừa mới xuất hiện tại Việt Nam nên khách Tây hãi, không dám tới nước ta nữa nên tiền lương sụt giảm là vì thế.

Tôi tự tin trả lời vợ trong tiếng nước xối ào ào trong Toalet mà cố gìm tiếng cười đang khùng khục trong cổ họng chỉ chực toé ra mặc dù tôi buồn thực sự.

Ăn cơm xong, ngồi uống trà lòng nâng nâng vì vừa dàn xếp xong một việc mà tưởng chừng như không có lối thoát, tiền ít đã đành, trong nhà lại lục đục cãi cọ nhau khi mà cái tết đang sầm sập tới sau lưng, tôi không hình dung nổi gia đình sẽ ra sao khi năm mới đang tới dần.

- Ông có cái thiệp đám cưới của ông bạn cũ, con nó để trên cây đàn Piano ấy, gớm cưới với chả xin, ngoài năm mươi tuổi mới lấy vợ, ngữ ấy không hâm nặng tôi cứ đi đầu xuống đất.

Vợ tôi đang rửa chén, bát dưới bếp nói nói vọng lên, trong giọng nói của vợ tôi vẫn thấy thoang thoảng đâu đó mối hoài nghi về những điều tôi giải thích lúc trước.

Thằng con trai nhanh nhảu cầm tấm thiệp bằng hai tay.

- Thiệp đám cưới của Bố đây ạ.

Lòng tôi như nhẹ đi trước cử chỉ đáng yêu của con. Cầm tấm thiệp Hồng trên tay tôi không tin vào chính mắt mình nữa. Hay là mình hoa mắt! Tôi lẩm bẩm. Gọi thằng con bật thêm ngọn đèn và với tay lấy cái khăn lau lại cặp kính. Tôi đọc đi đọc lại đến mấy lần. Rõ ràng chú rể tên là Bình, Vũ Hoà Bình hẳn hoi không thể nhầm được.

Thế là Bình cưới vợ, ngoài năm mươi mới lấy vợ như thế kể ra là quá muộn đối với một thằng đàn ông còn “Trinh tiết”, nhưng đối với Bình thì không phải như thế, điều mà bạn bè mong mỏi là Bình phải lấy vợ vì cô vợ trước Bình đã chia tay được hơn hai chục năm rồi. Cô con gái cũng đang học năm cuối đại học, cháu ở với mẹ. Còn một mình Bình cứ vò võ “nước lọ cơm niêu”, nghĩ cám cảnh bạn bè ai cũng khuyên Bình lấy vợ.

Tôi ngồi bần thần và như một cuốn phim cũ được chiếu lại, tất cả những kỷ niệm của thằng bạn cũ, về những năm tháng tuổi thơ lại dồn dập trở về trong ký ức.



Thứ Sáu, tháng 1 11, 2008

PHA CAFÉ

Nhân đọc bài của aPH viết về café, tôi thấy “ngứa ngáy”, nên viết bài bài này ea xem chơi, mong không phải là “múa rìu qua mắt thợ”.

Nói chung các món ăn chơi, sau hàng thế kỷ đều được nâng lên mức nghệ thuật đúng nghĩa. Pha café cũng vậy.

Khi pha café, trước hết, phin và ly phải được rửa sạch sẽ, tráng nước sôi đảm bảo không có bất cứ mùi vị nào khác và để cho nóng. Một số người còn để ly vào trong một chén nước sôi khi pha (thường là ở xứ lạnh như Đà lạt hay mùa động Hà nội). Café được cho vào phin vừa đúng mức của phin, trải đều dưới đáy phin và được cài lại nhẹ nhàng. Ở đây phải có phin đúng kiểu thì mới thực hiện được. Phin café phải được làm bằng kim loại không có mùi, không sét rỉ và không “hút” các chất lỏng như ở gốm sứ sẽ tạo nên mùi tạp của lần pha café trước đó (điểm này ngược lại hoàn toàn với uống trà), các lỗ trong phin phải lớn bằng nhau và được sắp xếp đều theo vòng tròn đồng tâm, nếu không café khi pha sẽ làm nghẹt một số lỗ và ra không hết làm café không đủ “đô” như mình lựa chọn. Lõi phin phải được cài vào một cách nhẹ nhàng để càfe được ép xuống nhưng còn chỗ để nở ra khi ngấm nước (chứ không “bạo lực” bằng cách siết bù lon).

Tôi may mắn còn giữ được 2 cái phin của VINALU sản xuất từ trước giải phóng để xài đến nay. Bây giờ muốn mua một phin café đúng cách sao không tìm thấy nữa. Hôm rồi, tại “Lễ hội café” tôi đã tìm và hỏi thì không ai biết loại phin đó. Thậm chí tụi nhân viên của một vài hãng café lớn còn nhìn tôi như “quái vật” và giới thiệu một số loại phin “xịn” vì …đắt tiền.

Sau khi cho café vào phin xong, cần rót một ít nước để làm ngấm café. Đây là điểm “bí quyết” mà rất nhiều dân uống cũng như bán café không biết hoặc bỏ qua. Nước rót vào lúc này chỉ vừa đủ láng mặt đáy phin và phải là nước không nóng, có thể hơi ấm nhưng không được lạnh mới ngấm đều vào bột café mà không làm nó chín thì sẽ không ra café nữa (café lạt nhách). Đợi cho café ngấm đều (khoảng từ 3 tới 5 phút) mới rót nước vào. Lúc này nước rót vào không phải là nước sôi mà chỉ khoảng 80oC là vừa. Có thể hiểu là nước rót ra từ bình thủy (phích nước) hoặc là nước nấu sôi trên bếp được rót vào bình thủy rồi mới rót vào phin (không rót trực tiếp làm café chín mất). Nếu rót nước sôi sẽ làm chát café bởi chất nhựa. Vị này sẽ được cảm nhận rất rõ khi uống café nấu bằng bình nấu café của tụi tây.

Không biết ông tổ nào ở miền Nam đã đổi từ “phích nước” sang “ bình thủy” ? Có lẽ vì biết tiếng Đức nên kiêng từ “phích” chăng (vì đây là tiếng Đan mạch trong tiếng Đức). Anh Quang xèng thử nghiên cứu xem.

Ở tây chỉ có café Pháp (franzoesischer Koffee) là café thiệt từ chất liệu đến cách pha, còn lại đều là “dỏm”. Tụi tây mà uống café ta như nó uống (4 –5 ly / ngày) thì có đứt mạch máu não mà chết !

Nước được rót vào phin phải đầy để tạo áp lực cho café nhỏ giọt đều và đúng mức. Song tùy theo người uống, khi thấy đủ thì bỏ phin ra (thường người ta uống khi phin chỉ xuống hết một nửa). Lúc này có một số người thích châm ít nước sôi cho nóng. Việc này không làm café lạt đi nếu biết canh chừng lượng café nhỏ giọt từ phin xuống với lượng nước sôi châm thêm. Vì thực chất chỉ trong khoảng ¼ đầu của phin là café đã ra hết nước “cốt”, sau đó chỉ có tác dụng làm café loãng đi và giữ mùi café mà thôi.

Để “kiểm tra” được café pha có đúng cách không, người ta có thể dễ dàng nhìn vào phin café sau khi đã rót nước. Café được nhỏ giọt đều, không chảy thành dòng như “li lái”, không tắc nghẽn, nước trong phin trong, không nổi bột café lên và tất nhiên phải đầy như nói ở trên.

Thường khi uống đúng kiểu, phin café được đặt trên một cái ly thủy tinh để người uống có thể canh chừng mức café mình muốn và “thưởng thức” từng giọt café nhểu xuống. Khi đến mức, café được sang qua tách sứ chớ không uống bằng ly thủy tinh (điểm này thì tôi không hiểu tại sao ?).

Với “kinh nghiệm” gần 40 năm uống café, tôi phải xác nhận ông Quang anh tôi là một trong những người pha café đúng kiểu nhất. Tất nhiên phải là Ổng tự pha chớ không là “dịch vụ”.

Đây chỉ là pha café, còn muốn uống một ly café ngon thực sự còn rất nhiều yếu tố khác như loại café, chất liệu khi rang xay, pha chế, độ mịn của bột khi xay… và không thiếu được “không gian, ngữ cảnh” khi uống . Nhưng “Café ngon phải có bạn hiền” mới là điểm quyết định. Bởi vậy thỉnh thoảng tôi vẫn ra uống café vỉa hè dù ở đó chỉ toàn xác cau trộn với cơm cháy. Cafe Sài gòn chánh hiệu !!

Xin đuợc thông báo

Anh em nhà 99 biết sống vì anh em nên được mọi người qúy mến. Có chuyện "chỉ là việc nhà" nhưng không thông báo thì thật có lỗi. Vậy xin được chia vui!
Chiều 14/1/2008 tại Nhà khách Chính phủ 12 Ngô Quyền, Bộ Ngoại giao sẽ chủ trì lễ trao tặng Huân chương Sao vàng cho gia đình lão đồng chí Trần Tử Bình. Cuối năm 2007, đúng dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh (1907-2007) và 40 năm ngày mất (1967-2007) của cụ, Chủ tịch nuớc đã kí quyết định điều chỉnh mức khen thưởng. Nếu không có gì thay đổi thì Chủ tịch cũng sẽ có mặt trong buổi lễ. Đặc biệt hơn, lễ truy tặng được tiến hành tại chính Bắc Bộ Phủ nơi cha chúng tôi cùng đồng chí Nguyễn Khang chỉ huy lực luợng cách mạng từ Nhà hát Lớn tiến vào cướp chính quyền ngày 19/8/1945.
Biết nhiều người quý mến gia đình muốn đến chia vui nhưng vì số luợng khách tham dự giới hạn. Mong đuợc sự cảm thông!
Cũng từng nghĩ "huân chương không lấy..." nhưng thật ra đây là việc làm rất có ý nghĩa cho con cháu sau này. Qua lần này có thêm kinh nghiệm, hơn nữa thấy nhiều phụ huynh của bạn Trỗi còn chưa được làm đầy đủ các chế độ khen thưởng nên xin sẵn sàng tư vấn.

Thứ Năm, tháng 1 10, 2008

THƯ CẢM TẠ

Thân gửi: Anh em Bạn Trỗi

Mẹ vợ tôi là bà Nguyễn Thị Cần đã từ trần ngày 3/1/2008 – hưởng thọ 91 tuổi, an táng ngày 7/1/2008 tại Nghĩa trang Tp.HCM (Củ Chi).

Từ khi được tin bà mất và trong lúc tang lễ, tôi đã nhận được nhiều lời chia buồn sâu sắc của bạn bè trên blog, qua tin nhắn và trực tiếp gọi điện thọai. Đồng thời gia đình cũng được đón tiếp các đòan đại diện cho các Khóa trong Trường Trỗi đến thăm viếng, giúp đỡ tại lễ tang và tiễn đưa bà về nơi an nghỉ cuối cùng.

Tôi xin thay mặt gia đình chân thành cảm tạ tình cảm của anh em đã giành cho gia đình.

Thực tình khi gia đình tự đứng ra tổ chức một lễ tang tôi mới cảm nhận có quá nhiều việc và cũng rất phức tạp dồn đến trong một thời gian ngắn, vì vậy lúng túng và sơ suất là điều khó tránh khỏi, cũng mong anh em lượng thứ.

Dương Minh









Sài Gòn trong những giọt caffee

Thân tặng những người bạn có cùng sở thích nghiền caffee và đam mê cái không khí quyến rũ đến kỳ lạ, không thể quên được trong không gian của những làn khói thuốc mờ ảo, trong tiếng nhạc dịu êm và cái đắng đến mức ngọt ngào trên môi của những giọt caffee đen.

Đoàn Phú Hoà




Những ai đã từng có dịp đến Sài Gòn đều bị thành phố “Hòn ngọc của Viễn Đông” này mê hoặc bởi những gương mặt khác nhau của nó. Một trong những gương mặt quyến rũ nhất của Sài Gòn chính là những quán caffee ...

Người ta nói rằng Paris hấp dẫn du khách bởi tháp Eiffel, sông Sein và những quán caffee vỉa hè thì ở Sài gòn vào buổi sáng sớm, ở đầu đường Đồng Khởi, trước tòa nhà Metropolitan cũng có caffee vỉa hè, nơi du khách có thể thong thả nhấp từng ngụm caffee trong cái se se buổi sáng hiếm hoi của Sài Gòn. Lui xuống phía dưới một chút nữa, gần khu trung tâm là những quán caffee một thời lừng lẫy danh tiếng của Sài Gòn cũ như La Pagode, Givral, Brodard,... La Pagode đã đóng cửa sau năm 1975 còn Givral, Brodard vẫn còn lại như thách thức với thời gian. Hai quán caffee này nằm ở vị trí đắc địa, xế ngay cửa tòa nhà hạ nghị viện Sài Gòn cũ mà hiện nay là Nhà hát thành phố, nổi tiếng do đám nhà văn và ký giả trong, ngoài nước thường tụ tập ở đây để săn tin. Nhóm nhà văn thường ngồi bên Givral còn tốp nhà báo lại hay ngồi tại Brodard. Bây giờ, lớp trẻ Sài Gòn thường ngồi ở Givral còn những người thuộc lớp trung niên vẫn ưa ngồi bên cạnh ly caffee ở Brodard, nhấp nháp hương vị xưa cũ ....

Cuối đường Đồng Khởi, vượt qua một số quán caffee mái hiên bên hông các khách sạn Continetal, Majestic, Caravelle còn có một quán caffee khá thượng thời hiện nay ở Sài Gòn, mang tên cũ của đường Đồng Khởi là caffee Catinat. Ở một góc, người chủ đã khéo léo tạo nên nét riêng của quán với những viên gạch dán trên tường có kèm theo chữ ký của những nhân vật mà người ta cho là nổi tiếng. Âm nhạc có Trịnh Công Sơn, Tô Vũ, Phạm Tuyên, Lệ Thu, Mỹ Linh, Phú Quang, Hồng Nhung, Lê Dung, Thúy Mị, Trọng Tấn ... Hội họa có Đỗ Quang Em, Lưu Công Nhân, ... Điêu khắc có Phạm Văn Hạng, ... Thi ca có Nguyễn Duy, Phạm Thị Ngọc Liên, Chim Trắng, ... Điện ảnh có Phạm Hoàng Nam, ... Đặc biệt có cả chữ ký của nhà thơ Trần Đăng Khoa, người vốn nổi tiếng là không rượu chè, không caffee, thuốc lá. Giá cho một ly caffee ở đây không dưới 20.000 đồng, tuy hơi đắt hơn các nơi khác, thậm chí caffee – rượu như Irrish caffee, Calypso caffee hay Rum caffee còn đắt hơn và là giá đồng loạt nhưng để được tận hưởng cái không gian yên tĩnh hiếm hoi và được cảm thấy được gần gũi những danh nhân như vậy thì cũng đáng!

Ở một nhánh rẽ trái của đường Đồng Khởi, trên con đường nhỏ Hồ Huấn Hiệp có quán caffee Bố Già (The Godfather), mở hồi năm 1976, khá nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ cũng như giới giang hồ Sài Gòn. Nghe nói là quán mang tên Bố Già bởi vì chủ quán có diện mạo rất giống với Marlon Brando, tài tử điện ảnh đã thủ vai bố già trong phim cùng tên và đã được giới hâm mộ trẻ ở Sài Gòn trong những năm đầu của thập kỷ 70 rất hâm mộ. “Bố già” đã qua đời hơn chục năm, nay quán do bà vợ và mấy đứa cháu quản lý. Ngồi ở “Bố Già”, trên vỉa hè, bên ly caffee, khách có thể hứng những ngọn gió mát rượi từ sông Sài Gòn thổi vào hoặc nếu ngồi lui vào trong, cạnh những kệ sách xếp dọc hai bên tường đầy ắp những sách ngoại văn cũ thì lãng khách vừa thưởng hương vị ngọt ngào của những giọt caffee lại vừa có thể lướt đọc vài trang sách của một thời dĩ vãng. Dân nghệ sĩ thường đến đây vì cái giai thoại kèm theo tên của quán còn giới thanh niên lại thích đến vào đêm để vừa có thể trò chuyện, nhấm nháp từng giọt caffee lại vừa được ngắm nhìn những cô vũ nữ với những cặp chân dài bên vũ trường “Mưa rừng” đối diện.

Những quán có “tiểu sử” chủ nhân kèm theo để cuốn hút du khách như quán “Bố Già” ở Sài Gòn không nhiều. Ngược lại, ở Hà Nội nhiều chủ nhân lấy tên mình để đặt cho quán như cà phê Lâm, cà phê Giảng, cà phê Quỳnh hay cà phê Nhân, ... Đến những chỗ này khách luôn có cảm giác thân thiết, gần gũi như đến với người bạn tri kỷ của mình vậy.

Thành phố luôn được đổi thay, caffee quán ở Sài Gòn cũng luôn được thay đổi và vì vậy cũng là điều dễ hiểu khi khó có thể tìm được một quán caffee nào nổi tiếng được ở Sài Gòn trong một thời gian dài. Giờ đây, người ta, nhất là lớp trẻ đến quán không chỉ để uống caffee mà còn để nhìn, để ngắm, để nghe,... vì vậy mỗi quán cố gắng tạo cho mình một phong cách nội thất riêng, sắc thái riêng. “Yesterday” trên đường Nguyễn Đình Chiểu, khách ngồi uống caffee đồng thời có thể ngắm những con chim hồng hạc treo lơ lửng trên những chiếc xe máy cổ to đùng được chủ nhân cho bầy ngổn ngang trong phòng. Ngược lại “Window´s” ở góc đường Trần Cao Vân gần hồ Con Rùa lại được trang trí rất bụi với những đường nét thô, phá cách nhưng hợp với lớp khách trẻ.

Đã nói đến caffee Sài Gòn là phải nói đến âm nhạc. “Hà Nội và tôi” ở gần hồ Con Rùa với những giọng hát mềm mại về quê hương Việt Nam. “Montana”, “Bodega”, “Catinat” vào những buổi tối thì lại ồn ào hơn một chút. “Yoko”, một quán nhỏ yên tĩnh nằm trên con phố nhỏ Nguyễn Thị Diệu thường được dành cho các đệ tử trung thành của The Beatles với những Imagine, Let it be, ... bất tử. Ai muốn thưởng thức jazz thì hãy ghé qua Wild Hourse. Trước đây có lẽ quán này là một trong những quán caffee nhạc hiếm hoi và ít thay đổi nhất ở Sài Gòn đang đổi thay từng ngày. Đã bao năm rồi mà vẫn người nữ ca sĩ hát nhạc jazz với giọng khàn khàn như có lửa, người nghệ sĩ saxophone tài hoa với những âm điệu da diết, thiết tha cùng với chiếc piano, violon tạo nên sự quyến rũ qua các ca khúc của Trịnh Công Sơn hay những bản tình ca làm dứt day lòng người như Love Story, ...

Sài Gòn muôn mặt, Sài Gòn của những giọt caffee. Caffee Sài Gòn có đủ khả năng chiều lòng tất cả mọi người để rồi cho dù chỉ là du khách lãng qua, nếu đã một lần nhấp môi thưởng thức cái vị đắng, vị ngọt của caffee Sài Gòn trong âm thanh ồn ào hay tĩnh mịch sẽ nhớ lại những kỷ niệm xưa, kỷ niệm của một “Buổi sáng muốn gọi em, nắng nói lời mê ngủ. Buổi sáng muốn gọi em, gió lạnh lẽo chối từ, ... Sáng nay ngồi một mình, với nỗi buồn xa vắng. Từng giọt, từng giọt đắng, anh uống cạn lạ, quen, ...”.

09.01. 2008, 23:00 h.

P.S : Thật ra, bài này không phải hoàn toàn của tôi mà tôi chỉ chỉnh sửa lại theo ý của mình (mong chủ nhân gốc của nó không nổi giận). Cách đây mấy năm, tôi đã được đọc nó trên một tạp chí nào đó và do sự quyến rũ của nó nên trong những lần vào Sài Gòn tôi đã tìm mọi cách để mò đến được những quán caffee này nhằm thưởng thức cái món “ma túy“ mà ngày nào tôi cũng phải đụng môi đến nó ít nhất là 4 – 5 lần. Có những quán vẫn giữ được nguyên cái không gian huyền bí của mình nhưng cũng có những quán đã được thay đổi cho kịp thị hiếu của khách hàng, nhất là các khách hàng trẻ. Dù sao đi nữa thì tôi cũng phải thừa nhận một điều là các quán caffee Saigon “dễ thương“ hơn và dễ níu lòng khách hơn những quán caffee ở Hanoi.

Thứ Tư, tháng 1 09, 2008

Tình hình Hồ Trương

GM đã hé chút chút về tình hình HTr trong một lời góp. Dù không muốn nhưng có lẽ cũng phải đưa tin.

Trưa hôm qua HTr đã phải vào lại bệnh viện, lần này là Bạch Mai nơi có cô em út (Thi) và cháu (Linh, con anh Tùng) làm việc, để tiện việc trông nom săn sóc.

Trước đó HTr từ giường ngồi lên ghế tiếp chuyện tôi và Thế Nam. Điều này làm Thế Nam băn khoăn mãi, liệu có phải mình thăm làm nó mệt. Thực ra HTr phải nhập viện gấp vì kết quả xét nghiệm máu cho nồng độ ure cao, cô em nhận được liền gọi gấp vào. Các biện pháp cần thiết trong khả năng của BV đã được huy động; em gái và cháu trực tiếp theo dõi tại "sân nhà" thì không có thể chê được điều gì.

Tin chiều nay mới nhất của VTM, mới thăm khi nãy, tình hình không có chiều hướng tốt lên.

Dân Tây Y, cả người nhà và bạn bè, gần như ngay từ đầu đã khẳng định điều xấu. Chỉ có bọn không biết gì như như mình mới cố gắng vào các hướng khác và tin vào điều kì diệu. Biết đâu đấy. Nhưng bây giờ bọn ngoại đạo có lẽ chả còn làm được điều gì cho bạn, ngoài chuyện cầu mong.

Nhảy dù, không phải chuyện đùa




P6. Chuyến nhảy dù thất bại
(hay: Trời to bằng miệng giếng).
.
Từ chuyến nhảy dù thứ hai trở đi, cảm giác hụt hẫng đối với chúng tôi đã giảm đi nhiều. Tôi đã thực sự tự tin khi rời cửa máy bay, khi rơi tự do (chứ không “tỏ ra tự tin” như lần thứ nhất), nhưng có lẽ mãi mãi tôi không chế ngự được cảm giác ơn ớn khi rời cửa máy bay, nó “bạo lực” quá. Tuy nhiên, chúng tôi được một tay người Pháp – từng nhảy dù 1.500 lần với cả trăm lần xếp hình trên không – an ủi rằng “nhảy dù là môn thể thao cảm giác mạnh, vì thế nó cho anh cảm giác mạnh, cho dù anh nhảy lần thứ 1.500”.
.
Sau lễ trao chứng chỉ vận động viên nghiệp dư, khóa 1 giải thể, ai về nhà nấy tiếp tục công việc “đời thường”. Nhưng nỗi “khát khao bầu trời” chưa dứt, anh em lại tìm đến nhau để nói những chuyện mà chỉ người “trong ngành” mới cảm nhận được. Rồi thì, chờ bên Không quân tổ chức nhảy dù thì lâu quá, anh em rủ tôi đi chơi Dù lượn (Paragliding), xem như “nghề tay trái”. Đại để nhảy dù thì anh từ trên trời rơi xuống đất, còn dù lượn thì anh từ dưới đất (chính xác là từ sườn núi) bay lên trời. Nhảy dù thì rơi rồi mới được mở dù, dù lượn thì phải mở dù xong xuôi mới bay được lên. Môn này thì “bạo lực”, dứt khoát, mạnh mẽ, môn kia thì cẩn trọng, từ tốn, nhẹ nhàng (ngoại trừ dân dù lượn “biểu diễn”, các pilot có đẳng cấp, coi tính mạng nhẹ tựa lông hồng).
.
Vào cuối năm 2007, trước hôm Câu lạc bộ tiếp tục tổ chức nhảy dù (chừng chục ngày), hội dù lượn rủ tôi ra Phan thiết “bay chia tay” với một chàng trong hội (anh ta “chuyển vùng”). “Chiểu theo” nguyên tắc quân đội “dưỡng quân trước khi vào chiến dịch”, lẽ ra không nên đi, nhưng chia tay với đồng đội là cần thiết nên tụi tôi đã đi. Hôm đó, trong lúc bay lượn trên không thì đầu óc tôi cứ lơ mơ “ôn lại” kĩ thuật dù tròn. Đáp xuống, leo núi, cất cánh lần thứ hai vẫn hơi lơ mơ. Chừng mười mấy phút, nghe chừng không vui, tôi cho dù hạ xuống. Khi còn cách đất chừng bốn, năm mét, thay vì cứ việc ngồi yên (tốc độ xuống của dù lượn chỉ 1 m/s, rất êm ả), không biết ma quỷ nào xui khiến, tôi kéo hai dây lái xuống, kéo hết cỡ (một thao tác của dù tròn và bị cấm bên dù lượn). Thế là dù gập cánh, lực nâng bằng không và cứ thế … rơi. Giá chỉ có vậy thì dùng chân tiếp đất cũng không tới nỗi nào, nào ngờ gió tạt dù về phía sau lưng làm tôi bị rơi ngửa, chân cao hơn đầu: Đầu tiên lưng trái chạm đất, tới vai trái, qua đầu và lộn lại nằm úp sấp, còng queo (theo anh em thuật lại). Đau như … trời giáng. “May” cái ghế dù lượn có tấm dựa lưng nên cũng … “êm”. Tôi lò mò về nhà với cái lưng cứng đơ cùng nụ cười gượng gạo. Ngồi … đau, nằm … đau, thở hơi mạnh … đau, ăn cơm chưa hết chén đã thấy “dội”, suốt ngày lử khử lừ khừ. Vợ tôi than … trời, lôi tôi đi bệnh viện khám không thiếu “khoa mục” nào. Bác sỹ nói chỉ bị “phần cơ”. Mất cả chục ngày xoa bóp rượu ngâm hạt gấc pha đều với “mười hai điều chỉnh huấn” của bà xã, mới thấy đỡ.
Tới ngày nhảy dù, tôi và cái lưng đau cùng tới Câu lạc bộ trong vai trò cổ động viên “cấp cao”, muốn làm gì tùy thích, trừ nhảy dù. Chuyến nhảy dù lần thứ sáu của tôi thế là thất bại, đành chờ kế hoạch năm tới.
.
Một vận động viên dù đẳng cấp quốc tế nói “phần thưởng lớn nhất dành cho người chơi dù là gì? – kể cả khi anh trở thành vô địch quốc tế, bởi phần lớn những người khác không biết dù là cái (thứ) gì. Khi anh nằm xuống, chỉ còn vài người nhớ tới anh, không phải vì anh giỏi môn dù, mà chỉ vì họ là bạn, là người thân của anh. Phần thưởng lớn nhất dành cho anh là thoả mãn đam mê. Anh là huyền thoại trong chính sự suy nghĩ của mình”. Xin mượn lời anh ta để kết thúc bài viết.
.
Ảnh 1: Chết rồi, hai chiếc dù này bị xẹp? Không phải, mà nó đang mở.
Ảnh 2: Dù lượn – thiết bị bay không động cơ.
Ảnh 3: Dù lượn là một dạng “du lịch ba lô”, nó không chỉ bao gồm leo núi và bay lượn.

Thứ Ba, tháng 1 08, 2008

Chuyện trong mấy ngày qua

Gặp gỡ tối 6/1/08
Tối chủ nhật có đám cưới cháu Trần Minh Phương (con gái Việt Trung, em út nhà tôi) ở Cung Văn hoá hữu nghị Việt-Xô. Việt Trung chơi thân với 1 số đàn anh Trỗi và Học viện KTQS nên đã có lời mời. Dẫn đầu là DMĐức cùng NSUT Mạnh Chung và các em học sinh của trường. Đêm tiệc tràn ngập trong niềm vui, lời ca tiếng hát và alcohol. Hoành tráng nhất là dàn đồng ca tới 50 ca sĩ, có thể ghi vào kỷ lục Guiness. Anh giai ĐMGiao cũng đến chúc mừng 2 cháu và uống với tụi tôi. Cô dâu chú rể tràn trề hạnh phúc.

Hai ngày ở Quảng Ninh
Sáng thứ hai, tôi cùng GM phi xe chất lượng cao đi Quảng Ninh có việc. Mất 3 tiếng rưỡi thì tới. GM dẫn ngay ra 1 quán cơm bình dân cho thưởng thức đặc sản biển. Tuyệt! Nào là ruốc tươi hấp, chả mực rán, bạch tuộc...
Chiều, tôi và GM phóng về thăm cậu mợ hắn. Ông bà sống ở khu văn công ngay Bãi Cháy. Hai cụ mừng lắm, nhất là cụ bà: "Cứ thấy con người ta lên TV mà chẳng thấy con mình đâu cả. Tết này về con nhớ mặc quân phục có cả quân hàm cho mẹ ngắm!". Chơi với hắn cứ nghĩ GM hay đùa khi đọc"alô" chệch là "alu!", nhưng khi đọc kĩ tấm bằng Huân chương Kháng chiến của cụ treo trên tường mới rõ tên cụ là "Nguyễn Ngọc Lô". (Vậy là tránh phạm huý!!!).
Tối, Thêm - giám đốc Cty Than Hồng Gai - mời GM, tôi và Long, bạn học cũ từ thuở lớp 1 đến lớp 10, ăn cơm tất niên cùng cơ quan. Ngồi với nhau, anh em nhắc lại nhiều kỷ niệm thời đi học. Đúng là ngày xưa mấy tên này cứ gọi Giang kèm theo tên bố(!). Cánh này nghịch ngợm và có nhiều chuyện vui. Xin đơn cử vài chuyện:
1. Bọn con trai lớp GM có thói quen trần như nhộng nhảy xuống biển tắm trước khi đến lớp. Cánh con gái thấy vậy đã bày trò ngồi chơi trên bờ, làm tụi con trai không dám lên mặc quần áo. Khi nghe trống tùng tùng, tụi con gái mới lững thững vào trường. Khi đó tụi con trai quáng quàng chạy lên bờ. Lần nào cũng vậy vào trường muộn, bị phê bình.
2. Hồi chiến tranh phá hoại, nhà trường quy định học sinh phải đội mũ rơm, đeo ba-lô, đi học. Mấy tên nghịch ngợm lên hỏi thầy không có ba-lô thì đeo bị cói có được không? "Được!" - thầy trả lời. Hôm sau 4 chiến sĩ đeo bị, đi guốc mộc đến trường đúng lúc cả trường đang tập trung. Tiếng guốc gõ côm cốp xuống sân làm mọi người chú ý, quay ra thấy 4 tên đeo bị đã cười bò lăn bò càng. Thầy giận lắm nhưng không làm gì được. Chiều cho gọi 4 chú lên và ra lệnh: "Từ ngày mai bỏ bị ở nhà!". Vậy là lại thắng!!!
Đúng là cánh GM nghịch ngợm chả kém gì lính Trỗi chúng ta!
Tối về còn qua quán café của em gái GM tán dóc rồi mới tạt qua nhà ông bạn có dịch vụ Internet nhưng không thể download được Mozilla nên không post bài được. Ngủ đêm tại nhà nghỉ của chị Yến, cũng lại bạn học GM, chỉ phải thanh toán có 100 khìn. Sáng hôm sau, tôi và GM làm 1 vòng bách bộ ra tận bến phà Bãi Cháy. Hắn chỉ cho xem sân bóng, nhà tù, nhà cũ ở chân núi Bài Thơ cùng trường học cấp I... Về tắm rửa rồi cùng Long đi ăn bánh cuốn với chả mực, uống café rồi mới đi nhận xe tại cảng Cái Lân. 12g30 đã có mặt tại Hà Nội.
Quảng Ninh và thành phố Hạ Long của GM thật nên thơ, không xô bồ, ồn ào, môi trường khá sạch sẽ. Hy vọng năm nay Hạ Long sẽ được bầu chọn là 1 trong 7 kì quan thiên nhiên của thế giới!

Viếng tang bố Lê Chi k4

Tối qua Tô Thế Truyền thông báo hôm nay đưa tang bố Lê Chi, Đại tá Lê Phương ở 10 Ngô Thì Nhậm, HN. Tin này được biết qua cáo phó trên TV. Hỏi thêm Đoàn Long và Hữu Cường cho chắc rồi tôi nhắn tin cho 40 số (dịch vụ qua máy tính của Vinaphone chỉ cho có thế, họ sợ phát tán "bom thư"). Hữu Cường lưu ý, khi tôi muốn liên lạc với Lê Chi để chắc là tin đúng, "Lê Chi và gia đình có vấn đề".
9h sáng nay mươi bạn thay mặt k4 đến viếng. Không có Lê Chi đứng chịu tang. Viếng xong ra ngoài mọi người lo viếng nhầm. Một số người quen gia đình Lê Chi như Đoàn Long, ... xác nhận không nhầm, đúng là ... người quen.
Không nhầm là được. Chỉ hơi buồn cho bạn, nếu "nghĩa" không được "tận".

Tối 8/1 Vũ Hoà Bình thẩm tra, nếu không có gì đặc biệt thì là ... NHẦM. Rất xin lỗi Lê Chi.

Tin, hi vọng là cuối cùng, tối 9/1 ĐC đã liên lạc được với Lê Chi. Cậu xác nhận là anh em ta không nhầm. Có điều cậu hi vọng trước hết anh em thông cảm với cậu, sẽ có lời với anh em sau. Ít ra như thế là giải toả được lỗi lầm của anh em ta đã không viếng sống ông cụ. Vì thế cám ơn Lê Chi đã không dối bạn và Đoàn Long đã nhận biết kịp thời cuộc đưa tang này.

Thứ Hai, tháng 1 07, 2008

Chấn Định mời dự tiệc cưới con trai

Chấn Định tổ chức cưới cho con trai, nhờ tôi chuyển tới các bạn lời mời dự tiệc cưới (thay cho thiếp mời vì đ/k không chuyển được hết) như sau:

Mời các bạn tới dự bữa cơm thân mật nhân lễ cưới con trai tôi,
vào 11h ngày 13/1/2008 (6 tháng Chạp năm Đinh Hợi),
tại nhà hàng Sân Gôn 55 Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Rất mong các bạn tới dự,
Nguyễn Chấn Định

Chủ Nhật, tháng 1 06, 2008

Người nào cũng có tài bẩm sinh

Hồi ở Quế Lâm, cái nhà ông Ngô Phúc Chiến tâm sự rằng ai cũng có tài. Lúc ấy cậy học giỏi nên tôi nghĩ hắn nói vậy để ngụy biện cho cái sự học yếu của mình. Phải mấy chục năm sau mới ngộ ra rằng cái tay này nói đúng. Không ư, như cái anh Duy Đảo k6, cách nay 30 năm là học sinh của tôi, học thật vất vả; thế mà nay vừa post bài "Ngày đầu tôi về hưu" lên blog đã làm anh em ta chóng cả mặt. Khen nức nở. Mà kiểu nghề tay trái như Đảo thì lính Trỗi có "cả tiểu đoàn".
Đúng là trời cho người nào cũng có ít nhất 1 cái tài. Cố mà tận dụng tốt để phục vụ anh em.

Thứ Bảy, tháng 1 05, 2008

Ai bảo ăn chơi là khổ

Sớm gọi điện đến nhà, định rủ Vinhnq trưa gặp nhau. Phụ huynh nói "con dâu nó đẻ, vào viện rồi". Vội tương một tin lên UtTroi. Báo chí ăn nhau về ... sớm. Quả nhiên "ông nội" còn phải ghen tị "ai báo cho anh". Ai báo, nghiệp của tao là thế!
Gọi cho V.Thắng. Cậu thông báo "hôm nay là ngày toàn dân làm chính sách hậu phương", đưa vợ đi chơi ờ nhà thuộc cấp. Thôi không thằng nào tiếp tao, thì đi với mày làm vệ sĩ. Gà đồi luộc, lợn lửng nướng, rượu Jane(?). Xong, vào phòng nhà chủ, chăn bông, ngáy pho pho cùng với V.Thắng.
Bình tớn và Hà trượng cũng tới (chúng đều quen chủ nhà), chờ hai bọ tỉnh không được, đưa nhau về trước. Hai thằng ngủ dậy chả thấy khách đâu, lại đến nhà Hà trượng để chào. Một chốc Sùng Hải k8 gọi điện: mời các anh đến thưởng thức phở xí nghiệp 5 nghìn.
Đến nơi nào có phở. Lại rượu với chả, giò, đuôi bò, bánh tẻ thửa làng Phú Nhi, kem Tràng Tiền. Phát mệt mới được ra về. 16h30.
Còn đang trên Láng-Hoà Lạc, GM gọi "Trương Phi" lên ngay Vườn Treo, hôm nay sinh nhật. Đến muộn một tiếng vẫn kịp gặp KQ và HP. Bia tươi Pacific, VSOP Remy. Góp nhậu GM 5.000 Đ, cậu rút kinh nghiệm Duy Đảo, xem rất kĩ, nói "gớm Lệ Quyên gì lắm thế, những 500.000 Đ". Thật nói G là M chả sai. Lần sau cứ thế cho anh em nhờ.
20h10, cùng ĐC mang cam Vinh, bưởi Diễn đến thăm HTr. Động viên vợ con nó là chính, chứ nó thì chả cần. Cậu vẫn tỉnh táo chiến đấu. Thế là được rồi.
"Ai bảo ăn chơi là khổ. Tôi mơ màng nghe tiếng cốc leng keng"!
(Về đến nhà, vẫn còn thấy vui, kể lể suốt một ngày "ăn nhậu". Thực ra vui vì suốt một ngày sống với các bạn, biết tin VinhNQ lên ông nội, nói chuyện với Bình tớn về lấy vợ cho cháu trai, nghe vợ Trần Hà tâm sự chuyện hợp tan của con trẻ, "giới thiệu" mẫu đại gia sống giữa bãi than Sùng Hải với vợ Việt Thắng, tối về nghe hội Vườn Treo khen chuyện của Duy Đảo, chúc mừng VinhNQ, kích GM leo Yên Tử, thăm vợ chồng HTr và 2 con gái. Suốt một ngày mở đầu với "Sinh" và kết thúc trong cuộc đối mặt với "Tử" bên những người bạn với nhiều nỗi lo toan nhưng luôn có hơi ấm bạn bè. Nói như các bạn ở xa "chúng mày phè phỡn quá".
Ăn nhậu được bao nhiêu. Bây giờ mới nhận ra chúng nó ghen tị vì bọn ở nhà có nhiều dịp chia sẻ những niềm vui và những nỗi lo nho nhỏ trong cuộc sống. Đấy là hạnh phúc!)

Nhảy dù, không phải chuyện đùa



.
P5. Cú nhảy dù đầu đời của kẻ 55 tuổi.
.
Cơm tối xong, tôi ngả mình xem TV. Chương trình TV khá hấp dẫn, mà … sáng nay mình gấp dù quá chuẩn rồi, vả lại chính lão Chủ nhiện Dù Quân chủng giám sát gấp dù cơ mà, chắc chắn “nó” mở. Tôi thở “khí công” một chút rồi ngủ sớm. Một giấc ngủ bình yên.
.
Chuông đồng hồ réo, 4 giờ sáng. Xuống nhà, bữa sáng đã sẵn sàng: Bánh mì, bơ, trứng cá đen, li sữa, không cafe, không thuốc lá, hệt tiêu chuẩn phi công.
Vợ tôi tiễn tôi ra cổng cùng lời dặn dò “nhảy dù xong, anh nhớ gọi điện về nhà ngay nhé”. Sau mới biết, đêm hôm đó cô ấy cứ chập chờn mộng mị như thể ngày mai chồng đi chiến trường B5 vậy. Biết rằng xác suất rủi ro của môn nhảy dù là “một phần vạn” nhưng vợ tôi không muốn tôi tham gia, bởi nó “bạo lực” quá, nhưng như cô ấy nói, miễn sở thích cá nhân không phương hại tới “lợi ích cộng đồng” thì có thể “bỏ quá” (theo cách hiểu của tôi, tức là, trời không chịu đất thì đất phải chịu trời). Từ lúc tôi ra sân bay, cô ấy bồn chồn ra vào cho tới lúc nghe thấy tiếng tôi oang oang trong điện thoại “anh nhảy dù thành công rồi, tuyệt vời!”.
.
Đúng 5 giờ sáng, nhóm nhảy dù đã tề tựu đông đủ. Một số anh em thuộc quân số ngày hôm sau cũng tới tiễn đưa. Họ siết chặt tay tụi tôi – những người “tiên phong” của Câu lạc bộ. Xe buýt đưa nhóm “tiên phong” ra sân bay và chở lực lượng tiễn đưa lên bãi đổ bộ ở Biên hòa.
.
Sân bay náo nhiệt.
Xuống xe, đã thấy các ba lô dù xếp đặt ngay hàng thẳng lối trên tấm bạt Tụi tôi nhận dù, tìm lại cái dù hôm qua mình gấp. Kế tụi tôi là tốp phi công chuyên nghiệp, mười mấy người, áo liền quần màu “nâu sồng”. Họ đang trong đợt huấn luyện định kì hàng năm.
Quân y Không quân đo huyết áp từng người. Không ai vượt ngưỡng, tất cả được “thông quan”.
Tụi tôi đeo ba lô, đội mũ bảo hiểm, điều chỉnh dây đai và gài dù dự bị với sự kiểm soát của các sĩ quan Không quân. Đeo xong, cả bọn dàn hàng ngang, nhảy nhảy vài lần theo lệnh, rồi tháo ba lô ngồi … chờ bay. Trời sáng rõ.
Chiếc trực thăng MI-171 màu vàng khởi động, tiếng động cơ gào lên, nhức nhối. Theo lệnh, tốp phi công chuyên nghiệp xếp thành một hàng dọc lên máy bay. Dường như họ hơi căng thẳng. Đúng thôi, tụi tôi đi nhảy dù để tìm niềm vui, còn họ chẳng vui thú gì khi đi nhảy dù. Máy bay cất cánh, mất hút.
.
Chờ đợi.
Anh em học viên kẻ đứng người ngồi, số khác đi tới đi lui, làm dáng, chụp hình.
Không biết trước lúc bước lên tàu vũ trụ, Iuri Gagarin nghĩ gì nhỉ?
.
Chiếc MI-171 đã trở về, tốp phi công đã hoàn thành bài nhảy dù, họ đang chờ tụi tôi ở bãi đổ bộ. Tụi tôi đeo lại dù dưới sự hỗ trợ của các sĩ quan, rồi thành một hàng dọc tiến tới máy bay. Máy bay cất cánh, thẳng tiến Biên hòa.
Tiếng động cơ rền rĩ, kích động. Bầu trời, mặt đất thấp thoáng sau ô cửa sổ.
Một ai đó thở phù. Một người di di lòng bàn tay vào quần. Một kẻ nhoẻn miệng cười.
.
Tới nơi rồi. Độ cao 800 mét, gió rất nhẹ, thời tiết tốt.
Tốp thứ nhất, bốn người, vào vị trí chuẩn bị theo thứ tự số 1, số 2, số 3, số 4. Đứng đầu tốp này là một huấn luyện viên. Chủ nhiệm Dù Quân chủng cùng một sĩ quan khóa dây an toàn của họ vào máy bay rồi quay sang móc “dây mồi” vào ba lô của từng người (xem P4: Tại sao dù không mở).
Cửa máy bay mở ra, gió đột ngột thốc vào, máy bay hơi rung rinh, đèn vàng chớp chớp, còi tín hiệu “ẹc, ẹc, ẹc” liên tục, dọa nạt. Chủ nhiệm Dù tay vịn cửa, ló đầu ra ngó nghiêng xác định thời điểm thả dù. Huấn luyện viên trưởng vỗ vai từng người “bình tĩnh nhé, đếm đủ ba giây hãy giật dù”.
Người số 1 khụy chân xuống “tấn”, Chủ nhiệm Dù đặt tay lên vai anh ta, thật giống cảnh Lễ tấn phong Hiệp sỹ châu Âu thời trung cổ, chỉ thiếu thanh kiếm hiệp sỹ.
Chủ nhiệm Dù vỗ vai số 1, hô “nhảy!”, giọng nhỏ nhưng đanh. Số 1 đạp cửa lao ra, một tiếng gió “phừng!” cất lên trước lúc anh ta mất hút – ấn tượng khá mạnh.
Người số 2 bước lên thay vị trí và lập tức xuống “tấn”. Tôi biết anh này, một giám đốc vui tính nhưng quyết đoán. Tin rằng anh chàng sẽ như vậy trong lúc này.
Chủ nhiệm Dù vỗ vai anh ta, hô “nhảy!”. Anh ta lao ra, không do dự. Tốt. Và sau mỗi 2 giây, một người lại lao ra cùng với tiếng gió “phừng!”.
Xong tốp thứ nhất. Chủ nhiệm Dù quay lại, dơ ngón tay cái.
Tuyệt vời. Cả máy bay vỗ tay.
Tốp thứ hai vào vị trí chuẩn bị. Bốn “dây mồi” lại móc lên nóc bốn chiếc ba lô.
Máy bay vòng lại. Chủ nhiệm Dù lại ló đầu ra cửa ngó nghiêng.
Người số 1 đứng trước cửa máy bay “nhận tước Hiệp sỹ” rồi lao ra, biến mất. Người số 2, số 3 số 4 cũng lần lượt biến mất.
Cả máy bay vỗ tay.
Máy bay vòng lại, tốp thứ ba tiến ra phía cửa và lần lượt biến mất
Bốn người “sót lại” trên máy bay lẹt đẹt vỗ tay.
Máy bay vòng lại, những người cuối cùng tiến ra phía cửa ...
.
Dù dự bị ở trước bụng. Nó ở trước bụng. Khi dù chính mất tác dụng, hãy hạ tay phải xuống nắm vòng chốt mở dù. Nắm vòng chốt mở dù, giật. Dùng hai tay lùa dù ra. Nhớ lùa theo chiều gió.
.
Số 1, số 2, số 3 lần lượt xuống “tấn” và rời cửa máy bay với tiếng gió “phừng! phừng! phừng!” ngắt quãng hai giây một. Tôi, người cuối cùng, phía sau không còn kẻ vỗ tay ...
Tôi lập tức bước vào vị trí, xuống “tấn”. Chân phải cách mép cửa khoảng 35 cm, thẳng hướng cửa, chân trái ở sau một bước, tay phải cầm vòng kéo chốt mở dù, tay trái đặt lên bàn tay phải, thật “chuyên nghiệp”.
Trước mặt tôi là vực sâu thăm thẳm. Gió phừng phực tạt vào mặt, mây mù bay bay, máy bay lắc lắc giật giật, tiếng động cơ gào thét. Các huấn luyện viên khuyên không nên nhìn xuống mà nhìn thẳng phía trước, sẽ đỡ hơn. Hầu hết học viên đều làm như vậy, nhưng với tôi, tôi không muốn rời mắt khỏi mép sàn máy bay, bởi nó là ranh giới giữa cõi thực và cõi hư vô.
Chủ nhiệm Dù vỗ vai, hô “nhảy!”. Tôi bước chân trái lên đạp vào mép cửa và lao ra ngoài.
.
Tôi rơi xuống ... rơi vào cõi hư vô ...
Rơi được một giây.
Hun hút ... Tay không chỗ bám, chân không chỗ nương, lưng không chỗ tựa, thật khó diễn tả.
Rơi được hai giây.
Hun hút ... Cơ thể hụt hẫng, không trọng lượng.
Rơi được ba giây.
Hun hút ... Bàn tay phải vẫn nắm khư khư vòng chốt mở dù. Bàn tay trái úp lên bàn tay phải, trung thành. Tôi giật mạnh chốt mở dù.
Rơi được bốn giây.
Hun hút …
.
Anh ngồi ở văn phòng. Điện thoại đổ chuông. Anh đặt tài liệu xuống bàn, quay sang cầm máy, nhìn số gọi, ngó quanh, rồi e hèm “tôi nghe đây” đã hết gần hai mươi giây. Khi nhảy từ máy bay ra, anh rơi có 3 giây và thêm 2 giây chờ dù mở, nhưng … lâu lắm, lâu như 3 phút, lâu như 30 phút, lâu như 3 tiếng, lâu như cả một học kì của cái thuở học trò.
.
Rơi được năm giây.
Hun hút …
Rơi được … Hực! Cơ thể như bị giật ngược, dù mở rồi.
Tôi ngước lên. Dù mở tròn xoe. Có thể nói, dù rất đẹp khi mở.
.
Tôi lơ lửng trên không ...
Tôi gài vòng chốt mở dù vào vị trí quy định, rồi một tay đu giữ nhóm dây dù, tay kia xê dịch dây đai để “ổn định chỗ ngồi” (chả là lúc dù mở, nó giật một phát làm dây đai lệch ra khỏi cái mà cha mẹ chu cấp cho mình để ngồi).
Trời trong xanh, gió hiu hiu. Bầu trời mặt đất trong tầm mắt. Xa xa dòng sông uốn khúc, hắt lên ánh bàng bạc. Phía trái nhà cửa san sát. Phía sau ruộng đồng xanh ngăn ngắt. Phía phải là sân bay quân sự Biên hòa với hai đường băng trắng toát pha nền xanh cây cỏ. Tất cả tĩnh lặng. Một cảm giác lâng lâng, dễ chịu. Mình đang ở tầm nhìn xa trông rộng.
Nhảy dù không ghê gớm như mình nghĩ.
Ai cũng có thể trở thành thi sỹ vào lúc này. Có một câu thơ, phải rồi, của Nguyễn Hữu Cầu:
“Nhất lung thiên địa tàng thân tiểu,
Vạn lý phong vân cử mục tầm”.
(Một vòm trời đất “giam hãm” một tấm thân nhỏ bé.
Vạn dặm gió mây chỉ trong tầm mắt).

Quả phù hợp với tâm trạng mình lúc này.
Một tiếng chào cất lên. Nhìn sang, thấy bạn dù vẫy vẫy. Tôi đáp lễ. Âm thanh truyền dẫn trên không trung hầu như không bị cản trở.
Thú vị thật. Bõ công bác mẹ sinh thành.
Đã nhìn thấy vạch chuẩn chữ “T” bằng vải trắng căng trên mặt đất.
.
“Số bốn, kéo dây lái phải” – tiếng loa từ mặt đất vọng lên, thức tỉnh những cái đầu mơ màng. Số bốn là mình đấy, đồng đội vẫn quanh ta.
Tôi kéo dây lái phải xoay dù về hướng tâm bãi, nơi có vạch chữ “T” đang đợi chờ. Rồi tôi lôi mạnh hai nhóm dây trước. Chiếc dù từ từ tiến. Hay thật, đúng y như sách.
Phễu đo gió uể oải – gió mặt đất gần bằng không, thuận lợi cho mình tiếp đất.
Dù lượn lờ, thấp dần. Ao chuôm, bụi cây, gò đống, nhà cửa, xe cộ rõ mồn một. Đã nhìn thấy anh em lăng xăng trên mặt đất.
Mặt đất từ từ dâng lên. Địa hình dưới chân toàn cây bụi, hố trũng khấp khểnh. Tốc độ xuống của dù là 5 m/s, tức mỗi giây mình xuống được năm mét, hơi nhanh, nhưng theo sách, lực tiếp đất bằng lực rơi khi mình tập “nhảy giò” thôi, không sao.
“Số bốn, chụm chân chuẩn bị tiếp đất” – mặt đất gọi. Vậy là mình đã gần đất xa trời rồi. Tôi vươn người nắm lấy khoen của hai nhóm dây điều khiển sau, kéo mạnh, toàn thân chuyển về tư thế chuẩn bị tiếp đất.
Tiếp đất này ... tiếp đất này ... huỵch! Không nặng như mình nghĩ.
Ô, mình không bị té nhào, mình đang đứng thẳng như cột đèn. Lính dù tiếp đất té sấp té nghiêng là chuyện cơm bữa. Tuyệt vời, y như tụi nhà nghề. Tôi ngó quanh, may đấy, lệch qua trái một chút là hụt chân trái xuống cái rãnh sâu nửa thước.
Một cảm xúc thật khó diễn tả. Chỉ có thể nói, tuyệt vời.
.
nh 1: Tụi tôi tìm lại cái dù hôm qua mình gấp (phía xa xa là “già làng”).
Ảnh 2: Lần lượt từng người lao ra khỏi máy bay. Do bị che khuất nên trong hình chỉ nhìn thấy phần chân (đang đạp vào mép cửa máy bay) và một phần lưng của một kẻ đang lao ra khỏi máy bay.
.
(Kì tới: Trời to bằng miệng giếng).

Thứ Sáu, tháng 1 04, 2008

Đây lực luợng ta mỗi ngày một lớn lên...

Tối nay qua thăm anh Bùi Vinh, được biết nhiều tin mới. Xin vui mừng thông báo: Trong đợt phong quân hàm cấp tướng vừa qua, lính Trỗi chúng ta có:
- Thiếu tướng Nguyễn Chiến (k1) Trưởng Ban Cơ yếu Chính phủ được phong hàm Trung tướng.
- Đại tá Vũ Nhật Minh (k2) Phó giám đốc Học viện KTQS được phong hàm Thiếu tướng.
- Đại tá Nguyễn Duy Anh (k5) Phó giám đốc Viện 108 được phong hàm Thiếu tướng.
- Đại tá Phùng Thế Quảng (k7) Cục trưởng Cục Kinh tế được phong hàm Thiếu tướng.
- Và Đại tá Nguyễn Phục Quốc (k4) Phó giám đốc Viện 175 TpHCM nhận quyết định Giám đốc từ 1/1/08.
Như vậy đến 1/1/08, trong số lính Trỗi có:
- 1 trung tướng: anh Nguyễn Chiến k1.
- 9 thiếu tướng: Phạm Ngọc Nguyên, Vũ Nhật Minh (k2), Nguyễn Minh Đức, Bùi Quang Vinh (k3), Lê Văn Đạo, Trần Quảng (k4), Nguyễn Quang Bắc, Nguyễn Duy Anh (k5), Phùng Thế Quảng (k7).
Xin chúc mừng các anh, các bạn đã được Đảng, Nhà nước tín nhiệm phong hàm cấp tướng và giao nhiều trọng trách. Chúc các anh, các bạn hòan thành vẻ vang nhiệm vụ được giao!

NGÀY ĐẦU TÔI NGHỈ HƯU

Hôm nay tôi viết tặng các bác một câu chuyện nhỏ, câu chuyện của chính tôi. Nếu "tiêu hoá"được thì các Bác cho mấy "Nhời" vào lời góp, gọi là có tí đông viên, để tôi phát huy. Tôi có nhiều chuyện "riêng tư" lắm, viết chủ yếu là để giải toả, thứ nữa là để lấy giấy lộn vỗ béo mấy bà ve chai, đúng như lời thằng con tôi nó hay xỏ xiên, vì nó là độc giả đầu tiên khi mỗi"Tác phẩm"của tôi ra đời. Tôi bắt đầu nhé.
Từ ngày nghỉ hưu tôi đâm sinh tật, sáng nào cũng dậy muộn, ngủ thì không được mà dậy thì chẳng muốn. Nằm trên giường tôi nghe tiếng vợ lầu bầu từ dưới bếp vọng lên:"Thế là sáng nay lại không có gì cho thằng bé ăn sáng, chỉ tại cái bếp ga chết tiệt, tự dưng lại dở chứng hết ga. Lục tục một hồi rồi vợ tôi đi làm. Gần bảy giờ tôi mới dậy, nhìn trên bàn thấy mảnh giấy của vợ để lại:"Anh ra quán ăn sáng rồi mua đồ ăn cho con, gọi nó dậy sớm, vì 8 giờ 30 sáng nay nó có giờ học đàn, đừng để cô giáo đến phải chờ. Anh gọi đại lý ga thay cho em bình ga mới, tiền em để trong ngăn kéo bàn phấn, trong phòng ngủ". Nhà tôi ít khi ăn uống ngoài quán, vợ tôi nói:"Ăn ở nhà vừa rẻ, vừa hợp khẩu vị lại vệ sinh, nhất là trong thời buổi an toàn vệ sinh thực phẩm bát nháo như hiện nay". Lạ thật, tôi cũng không hiểu bao nhiêu năm nay mà bà vợ tôi vẫn không làm sao quen được khẩu vị của người phương Nam là món ăn nào cũng phải cho đường. Gần 11 giờ thằng con tôi nhảy xe Bus lên nhà cô của nó, ăn trưa rồi đi học. Còn lại một mình tôi tha thẩn với lũ chó và dăm ba chậu cây cảnh. Buổi chiều ngồi đọc nốt cuốn sách, cuốn sách có tựa đề"Yêu thương và chết"mà vợ mới mua. Cuốn sách triết lý về sự sống và cái chết, càng đọc tôi càng ngộ ra nhiều điều. Tôi nhớ tới câu:"Mọi ngả đường rồi đều trở về La Mã". Trong chúng ta ai cũng biết điều đó, nó là quy luật, đã chấp nhận cuộc sống phải biết chấp nhận cái chết. Biết là thế mà không hiểu vì sao khi còn tồn tại trên cõi đời này người ta vẫn không chịu thương yêu lấy nhau. Quỹ thời gian mà tạo hoá ban tặng cho mỗi con người chỉ có bấy nhiêu. Chiến tranh, rồi những rủi ro trong hành trình sử dụng quỹ thời gian ấy nhiều người trong bạn bè của chúng ta không có điều kiện để sử dụng hết. Đứa thì hy sinh anh dũng trên chiến trường khi chưa biết thế nào là vị ngọt ngào nụ hôn người bạn gái, đứa thì bệnh tật bỏ lại khoảng thời gian còn lại của mình, mà muốn tặng, muốn cho bạn bè người thân mà chẳng được ... Mải mê đọc và suy ngẫm sự đời, tôi bỗng nghe thấy tiếng chuông đồng hồ, nhìn lên, thôi chết! Đã 4 giờ rồi, sực nhớ tới lời vợ dặn. Chiều nay đi làm về mà không có ga cho vợ nấu cơm thì bà ấy lại càu nhàu, điều mà trong nhà hai bố con tôi rất ngại và cố gắng né tránh. Tôi vội vàng gọi điện thoại cho đại lý ga. Nhanh thật , đúng là kinh tế thị trường, chỉ loáng một cái đã thấy nhân viên của đại lý chở ga tới. Nhân viên chở ga là một thanh niên, da trắng, cao, nét mặt thư sinh và đặc biệt có đôi mắt rất sáng, nói giọng xứ Nghệ . Tôi nghĩ chắc cậu này là sinh viên đi làm thêm để kiếm tiền trang trải học hành. Sau khi thay ga xong tôi cẩn thận hỏi lại:
- Cháu lắp van có chắc chắn cho chú không đấy?
Cậu nhân viên lễ phép:
- Chú yên tâm, cháu làm đúng quy trình kỹ thuật, công việc này tuy đơn giản nhưng sơ ý thì cũng nguy hiểm lắm.
- Hết bao nhiêu tiền hả cháu? Tôi hỏi.
- Dạ Chú cho con xin 245.000 đồng.
- Sao những ngần ấy tiền cơ à! Tôi giật thót người như phải bỏng và hy vọng là mình nghe không rõ.
- Liệu có nhầm không hả cháu? Tôi cố vớt vát hỏi thêm.
Cậu nhân viên giải thích:
- So với tuần trước tuần này giá ga có giảm, rẻ được 5000 đồng mỗi bình đấy chú ạ.
Tôi thẫn thờ quay vào phòng ngủ, thấy tờ giấy bạc màu xanh xanh trên bàn phấn, tôi cầm lấy đi ra đưa cho cậu nhân viên. Sau một thoáng chần chừ, cậu nhân viên nói:
- Thưa chú hết tất cả là 245.000 đồng ạ.
Lại không có tiền thối chứ gì , tôi nghĩ bụng. Lấy cái bóp trong túi quần(Tiền riêng của tôi) cẩn thận lôi hết tiền trong bóp bỏ ra bàn, "Miết" từng tờ tôi đưa cho cậu nhân viên 250.000 đồng, rồi nói:
- Cháu khỏi phải thối lại. Tiền thừa chú bồi dưỡng để cháu uống Cafe.
Nhận tiền xong, sau khi đếm lại cẩn thận cậu nhân viên vội vã nổ máy, rú ga vọt ra cổng, ngoái đầu lại không quên cảm ơn tôi.
Vừa đóng cổng tôi vừa lầm bầm:"Làm ăn mà cứ như chạy giặc ấy, thanh niên bây giờ làm cái gì cũng cứ ào ào, chạy như thế chẳng trách tai nạn giao thông ngày càng tăng cũng phải. Cậu nhân viên đi được một lúc tự nhiên tôi thấy chột dạ, có điều gì đó bất an, không yên tâm. Tôi vội vàng tìm mục kỉnh và mở ví tiền ra đếm lại. Tôi bỗng lặng đi, người lạnh ngắt, mồ hôi vã ra như phải cảm. Chết rồi! Thế là mình đưa nhầm tờ 500.000 đồng, mắt mũi kèm nhèm thế nào lại tưởng là tờ 20.000 đồng, chẳng trách lúc về tôi thấy cậu thanh niên vội vã thế. Tôi đã nhầm kiểu thế này mấy lần rồi. Bực mình về chuyện này mà đã có lần tôi liều, chầu chực ở văn phòng đoàn đại biểu quốc hội thành phố để kiến nghị. Tôi nói với các vị ấy là phải có tiếng nói trên diễn đàn quốc hội, đề nghị ngân hàng nhà nước phải thay đổi mẫu mã của đồng tiền hai mệnh giá này chứ không thì chết tụi mắt mũi kèm nhèm như bọn về hưu chúng tôi. Mất cả nửa tháng lương chứ chẳng chơi, tôi bức xúc lầu bầu tự trách mình.
Thế là tôi vội vàng xách xe máy lao vút đi. Tôi thề với các bác rằng, từ lúc tập toẹ sắm được "Con cá ươn", cho tới bây giờ lên đời được "Chú cánh én", chưa bao giờ tôi chạy xe máy nhanh đến như thế, mặc dù trước đó ít phút tôi đã chửi thầm cậu nhân viên vì tội chạy xe máy ẩu. Tìm mãi tôi mới thấy đại lý, cửa hàng lèo tèo, ọp ẹp, kiểu này không lừa đảo thì chắc cũng chẳng đứng đắn gì, tôi nghĩ bụng. Dừng xe trước cửa hàng tôi hỏi một cô gái có dáng nhân viên đang đứng soi gương tỉa lông mày phía sau quầy:
- Chào cô! Cô cho tôi gặp cậu nhân viên vừa đưa ga xuống nhà tôi.
Cô ta nói:
- Cậu ấy vừa đi ăn cơm chiều rồi chú ạ, có việc gì không chú?
- Tôi có chút việc riêng, muốn gặp cậu ta, tôi nói.
Cô gái tiếp:
- Chú đợi một chút cậu ấy đi ăn cũng sắp về rồi.
Nói đoạn cô gái đưa cho tôi chiếc ghế, mời tôi ngồi. Có tiếng xe máy, cô gái lên tiếng:
- Cậu ấy về rồi kia.
Tôi nhìn lên. Không phải cậu này, cũng cao cao nhưng sao da tái thế kia, mắt thì đùng đục như thằng nghiện, lại đảo qua đảo lại trông ra không phải người ngay. Tôi quay lại hỏi cô gái:
- Cửa hàng của cô có mấy nhân viên giao nhận?
- Dạ chỉ có một mình cậu ấy thôi, cô ta trả lời.
- Cháu chào chú, chú tìm cháu có việc gì không ạ? Giọng Nghệ tĩnh ấm áp, cậu thanh niên lên tiếng khi biết tôi đang chờ. Tôi chớp mắt đến mấy lần và giương mục kỉnh lên. Giọng nói này thì đúng là của cậu ta rồi, mình không thể nhầm được.
Tôi phủ đầu ngay, nhưng vẫn cố giữ được vẻ bình tĩnh:
- Khi thanh toán tiền ga, chú có đưa nhầm cho cháu tờ 500.000 đồng, cháu cho chú xin lại.
Cậu thanh niên ngạc nhiên và vội vàng lôi cái bóp lép kẹp trong túi quần ra kiểm tra. Tôi thoáng nghĩ, thằng này ranh thật, nó đã kịp chuồn về nhà trọ cất biến tờ 500.000 đồng của mình đi rồi. Cậu nhân viên thanh minh:
- Trong bóp của cháu chỉ có thế này thôi, chú kiểm tra lại xem.
Đúng thật trong bóp của nó chẳng có gì đáng kể, ngoài tấm thẻ sinh viên và mấy đồng bạc lẻ. Không lẽ tôi nhầm! Bọn sinh viên có kiến thức là chúng nó ranh ma lắm, phải cảnh giác. Tôi hỏi nó:
- Cửa hàng có máy điện thoại không?
- Dạ có chú ạ.
- Cho chú gọi nhờ.
- Chú cứ tự nhiên, cậu nhân viên có vẻ băn khoăn.
Tôi nhấc máy ấn số gọi cho vợ. Chẳng chào hỏi gì tôi nói:"Tờ 500.000 đồng em để trên bàn phấn trong phòng ngủ có đúng không?. Chẳng có 500.000 đồng nào cả, vợ tôi trả lời. Rồi tiếp:"Tiền trả ga 245.000 đồng em đã để sẵn trong ngăn kéo bàn phấn trong phòng ngủ". "Thế 500.000 đồng trên bàn là của ai?" tôi lớn giọng. Vợ tôi nói:" em không biết". Quái nhỉ? Không lẽ"Giời" cho? Định thần một lúc tôi mới chột dạ. Thôi chết rồi bây giờ tôi mới nhớ. Vợ tôi để tiền học phí trả cô giáo dạy đàn Piano cho thằng con tôi trong phong bì kẹp ở cuốn sổ đầu bài. Hết giờ học thằng con tôi nó đưa cho cô giáo. Vì không có tiền lẻ nên vợ tôi để cả năm tờ 100.000 đồng trong phong bì. Sau khi kiểm lại cô giáo thối lại cho thằng con tôi tờ 20.000 đồng. Mỗi tuần cô giáo dạy một giờ, một tháng bốn giờ, tiền học một giờ là 120.ooo đồng, vậy vị chi có phải là 480.000 đồng không, tôi nhẩm tính. Tờ 20.000 đồng thằng con đem vào phòng ngủ vứt trên bàn phấn, nó đã nói lại với tôi mà tôi quên béng nó mất. Cho nên lúc vào phòng lấy tiền trả, thấy tờ giấy xanh xanh trên bàn tôi lại cứ tưởng tiền vợ để lại trả tiền ga. Hèn chi lúc đầu tôi đưa trả tiền, cậu nhân viên lưỡng lự mãi, rồi lại còn mắng vốn cậu ta nữa chứ: "Đi giao hàng mà không chuẩn bị sẵn tiền lẻ để thối lại cho khách, bất tiện quá".
Mặt tôi đang tái, vì tức chuyện"mất tiền", chuyển dần sang đỏ vì mắc cỡ, biết nói thế nào đây với cậu nhân viên. Tôi đặt ống nghe xuống đi ra. Lúc này trước mặt tôi vẫn cậu nhân viên ấy, vẫn dáng cao cao, trắng trẻo,nét mặt thư sinh, nhanh nhẹn và vui tính, vẫn giọng Nghệ tĩnh ấm áp, khác hẳn hình hài"Méo mó"qua cái nhìn của tôi lúc trước. Tôi nói khẽ đủ để cậu ta nghe:"Chú xin lỗi cháu, mắt mũi chú kem nhèm quá nên chú nhầm, mong cháu thông cảm bỏ qua cho chú". Cậu nhân viên bình thản:"Không sao chú ạ, nhầm lẫn là chuyện bình thường thôi. Tôi vội vàng nổ máy xe, vào số, tăng ga vọt đi như trốn chạy, cũng vội vàng và nhanh như lúc tôi xuất phát từ nhà, chẳng còn thiết gì đến luật lệ giao thông nữa.

Thứ Năm, tháng 1 03, 2008

Mặt trái của đất nước phát triển

TQ mấy năm qua phát triển với tốc độ chóng mặt nhưng kèm theo đó là sự phân hóa xã hội rõ rệt. Đến các thành phố lớn bên cạnh các cao ốc chọc trời sẽ không khó khi nhận ra những gương mặt hốc hác, thiếu ăn chìa tay xin ở bến ga, bến tầu, trung tâm mua bán, du lịch; hay những người áo quần nhếch nhác mò mẫm kiếm sống ở các thùng rác công cộng... Mức sống giữa người giàu và người ngèo, giữa nông thôn và thành thị chênh lệch khủng khiếp.

Xin có phóng sự ảnh với bạn đọc.








- Bên cạnh các cao ốc mới xây dựng là các khu phố cũ chưa được quy họach.

- Những gương mặt mệt mỏi sau 1 đêm thức trắng của dân ngọai tỉnh "kiếm ăn" ở ga Thượng Hải. Tay đẫy tay nải vứt dưới chân.
- Người tàng tật thu nhập thấp là đối tựơng chính sách an sinh xã hội.
- Những mẩu giấy báo vụn cũng là nguồn sống.

Thứ Tư, tháng 1 02, 2008

Nhảy dù, không phải chuyện đùa




P4. Tại sao dù không mở.
.
Dù tròn mở ra như thế nào.
Các loại dù của bộ đội dù đều gồm dù chính và “dù kích hoạt”. “Dù kích hoạt” là một cái dù bé tí rộng hơn thước vuông. Các dây “dù kích hoạt” được khâu vào đỉnh vòm dù chính.
Ở vị trí chuẩn bị, người chỉ huy móc sợi “dây mồi” (một sợi dây vải to bản) vào sợi cáp căng dọc thân máy bay, đầu kia ngoặc vào túi đựng “dù kích hoạt” gắn trên nóc ba lô dù của lính dù. Sợi “dây mồi” và túi đựng “dù kích hoạt” sẽ ở lại máy bay sau khi anh ta bay ra ngoài.
Lúc lính dù rời khỏi cửa máy bay, “dây mồi” bị kéo căng sẽ giật đứt dây “garăngty” của túi “dù kích hoạt” và lôi túi ra khỏi “dù kích hoạt” (chứ không phải lôi dù ra khỏi túi), thế là chiếc dù bé tí sẽ xòe ra và cùng rơi với người lính.
Khi giật chốt mở dù, ba lô sẽ mở toang, thế là “dù kích hoạt” kéo dù chính ra khỏi ba lô và túi đựng dù (tức nếu không có “dù kích hoạt” thì sau khi giật chốt mở dù, anh ta phải lôi dù chính ra và trải nó trên … bầu trời). Như vậy, tiếng là rơi tự do nhưng thực tế lính dù cùng rơi với cái dù bé tí có vận tốc rơi 35 m/s. Để rơi tự do theo nghĩa đầy đủ của từ này thì phải dùng các loại dù khác chuyên cho thể thao.
Sau khi dù chính đã mở, “dù kích hoạt” bị xẹp, và cùng với túi đựng dù chính, chúng sẽ “ngủ yên” trên nóc vòm dù.
.
Dù tròn “Đê năm-sêry 2”, “Đê sáu-sêry 4”.
Dù tụi tôi sẽ nhảy là dù D5 và dù D6 của lính Nga, vòm tròn, màu trắng. Dù chỉ có một side cho những người nặng từ 120 kg tới 40 kg, lính tráng khỏi phải lựa chọn. Toàn bộ dù và phụ kiện nặng 15 kg. Với kích thước vòm 83 mét vuông, các trung đội bộ binh đi dã ngoại đều mơ ước có nó. Bộ đai ôm lấy người theo nguyên lý “năm điểm treo”: hai vai, ngực và hai đùi (liên kết qua mông). Bộ đai đồng thời là bộ gá cho ba lô dù phía sau lưng và túi dù dự bị ở trước bụng.
Gấp dù D5, D6 phải có hai người, “chủ dù” đứng số 1, “phụ việc” đứng số 2. Gấp xong, anh về số 2 phụ gấp chiếc dù của người đã phụ việc cho anh.
Trước tiên anh kéo dù ra và trải trên tấm bạt có chiều dài bằng chiều dài của dù, chiều rộng một mét (trong mọi trường hợp, vòm dù và dây dù phải luôn ở trong phạm vi tấm bạt). Anh quan sát xem dù có “lỗi” không.
Rồi anh lấy khẩu độ “giữa hai dây dù tại vị trí miệng vòm dù” làm chuẩn và lần lượt xếp các “múi dù” lại với nhau, gập qua gập lại theo kiểu đàn xếp (đàn ắccoóc).
Tiếp theo, anh “lia” dây sao cho các sợi dây dù phải thẳng tắp, không xuắn vào nhau.
Rồi anh gập vòm dù thành từng đoạn chừng 35 phân một để dồn nó vào túi đựng dù, dồn qua dồn lại cũng theo kiểu đàn xếp.
Cho vòm dù vào túi xong, anh cố định dây dù bằng cách luồn cả bó dây dù, từng đoạn một, vào các ống chứa bằng vải khâu sẵn trên túi đựng dù.
Tiếp theo anh gấp “dù kích hoạt” và bỏ vào túi dành riêng cho nó.
Sau đó anh đặt túi đựng dù chính (đã có dù) vào ba lô và gài nắp ba lô thông qua chốt mở dù. Rồi lắp máy mở dù tự động. Rồi gắn “dù kích hoạt” vào nóc ba lô. Rồi cột tất cả các dây “garăngty” để “garăngty chiếc dù”. Thế là xong.
.
Dù dự bị.
Theo quy chế của ngành dù, dù dự bị do nhà máy sản xuất dù trực tiếp gấp. Khách hàng kiểm soát dù theo niêm phong và sổ lí lịch đính kèm. Dù dự bị chỉ sử dụng một lần hoặc hủy khi hết “đát”, tùy “cái nào đến trước”. Tôi không rõ người ta bảo quản dù dự bị ra sao, nhưng chắc chắn là một quy trình nghiêm ngặt. Tới nay tụi tôi vẫn chưa nhìn thấy dù dự bị ra sao, trừ túi đựng nó.
.
Người ta cam kết “chắc chắn nó mở”.
Nếu gấp dù theo đúng quy trình thì không xảy ra trường hợp dù không mở. Trường hợp anh gấp dù “luộm thuộm” thì dù có thể bung ra chậm, hoặc bị xoay tròn hoặc bị một “pan” nào đó, nhưng nó vẫn mở. Thậm chí vòm dù bị đạn bắn toạc cả thước vuông, bị đứt một hai sợi dây thì vẫn an toàn. Có lẽ chỉ trong tình huống tác chiến khẩn trương, căng thẳng, lính dù gấp vội gấp vàng, sĩ quan giám sát quá mệt mỏi thì mới xảy ra chuyện dù không mở. Tiếc rằng tôi chỉ hoàn toàn tin vào điều này sau khi đã nhảy dù thành công.
.
Ảnh 1: Phía trên ba lô dù là túi đựng “dù kích hoạt”, sợi dây có bản rộng màu vàng là “dây mồi”, sợi dây có bản rộng màu trắng là dây nối từ “dù kích hoạt” sang dù chính. Hình chụp lúc học viên đang ở vị trí chuẩn bị rời cửa máy bay.
Ảnh 2: “dây mồi” đã được ngoặc vào ba lô dù.

.
(kì tới: Cú nhảy dù đầu đời của kẻ 55 tuổi).

Yên Từ ngày đầu năm

Nhân ngày đầu năm tôi và các Trỗi nhà đi thăm cảnh Yên Tử. Buổi sớm lạnh 14 độ C, nắng vàng, trời xanh. Không có gì vội vã, chúng tôi rời HN từ 8h30 gần 3 tiếng sau mới tới bãi đỗ xe. Chuyến đi đã định là lên xuống bằng cáp treo, chặng cuối khoảng 500m chiều cao sẽ leo bộ. Đương nhiên là như thế, nếu lên chùa Đồng. Vì tuyến cáp treo thứ hai còn đang xây dựng, chưa chắc mùa lễ hội năm nay đã dùng được.
Một năm mấy chuyến Yên Tử, mặt mình có khi người ta còn biết. Dù thế mỗi lần đi tôi vẫn cố tìm những góc nhìn khác. Ngọn tháp Tổ trên nền những cành đại cỗi và núi thiêng.
Thiền sư Minh Hành (Nhân Thiên Đạo Sư Thích Tại Tại, tượng trong tháp Tôn Đức). Tháp này dựng bên ngoài tháp tổ, chứa nhục thể của Thiền sư, xây dựng năm 1659 do chính vua Lê ban sắc chỉ. Thiền sư là người Kiến Xương, Giang Tây, Đại Minh, sinh năm 1595, sang ta năm 1633 và được trao y bát (trụ trì chùa Hoa Yên?) năm 1644, mất năm 1659.
Trong tháp Tổ cũng có tượng Trần Nhân Tông mà người ta đã đặt câu hỏi "tại sao không lấy bức tượng này làm mẫu" khi đúc tượng Tam Tổ thiền phái Trúc Lâm đặt trên chùa Đồng mới. Tôi không chụp bức tượng trong tháp Tổ, vì không vào gần hơn được do vòng rào và vì hơi ngại có làm mất nghiêm trang?
Mùa này thường là người ta đi thăm cảnh, nhất là người nước ngoài và Việt kiều. Có đôi nam nữ người châu Á, ăn mặc như ta, quỳ lạy 4 hướng, có lẽ không phải người Việt.
Nhưng cũng có những người đi lễ, có cả cụ bà lần đầu tiên lên chùa Đồng. Cụ tự xác định là lần cuối, con cháu động viên năm sau có cáp treo lên trên này, cụ còn đi nữa.
Mùa này khách không nhiều lắm, nhưng các hoạt động khác thì khá tấp nập. Tuyến cáp treo thứ hai về cơ bản xong phần cáp nhưng nhà ga thì chắc chưa kịp phục vụ lễ sắp tới đây.
Ga cuối tuyến trên cũng còn dang dở. Từ đây khách còn phải leo lên quãng trăm mét chiều cao nữa mới tới chùa Đồng. Đủ cho khách hành hương tỏ lòng thành mà không mất nhiều sức quá.
Vật liệu xây dựng từ cát, gạch cho tới xi măng, sắt đều hầu như trông vào đôi vai cửu vạn đưa lên. Trước tôi đã đưa ảnh những người vác xi măng và sắt, lần này là những người gánh gạch. Gạch đặc 3kg/viên. Người gánh nhiều được 18 viên/chuyến, ít là 14 viên. Ngày họ đi được 2 chuyến, lên cao gần nghìn mét với trọng lượng hàng từ 40-50kg, đơn giá 2500-3.000 Đ/kg.
Những người kinh doanh nhà hàng cũng lo tập kết từ giờ để mùa hội (sau Tết có hàng bán). Cậu thanh niên này đã xong 2 chuyến của mình và đang giúp vợ đi nốt chỗ hàng này. Trọng lượng mỗi chuyến của họ cũng trên 40kg. Công vận chuyển sẽ được "thanh toán" trong tiền hàng bán ra vào mùa hội tới.
Chuyến xuống chúng tôi còn gặp nhóm người vác lên 2 cái TV LG 21", cho hai chùa Vân Tiêu và chùa Đồng. Một thanh niên khoẻ mạnh vác thùng (hoặc TV rời) còn mấy người phụ nữ cầm anten và dây dợ theo sau hộ tống.
Chương trình xây cất Yên Tử không chỉ có tuyến cáp treo. Để chuẩn bị đón lượng người tăng đột biến nhờ cáp treo thêm vào biển người mùa lễ hội trên chóp núi nhỏ bé này, người ta đang lấp đá và lát mặt các khe giữa những hòn đá tự nhiên để tạo ra nhiều chỗ đứng hơn. Nói chuyện với tôi cậu thợ công nhận làm vậy mất cảnh quan, nhưng sẽ giải quyết được chỗ đứng và ngăn chặn sự cố gãy chân do lọt xuống đó thi thoảng vẫn xảy ra. Sát mép bờ vực sâu, người ta đang hàn nốt những mét rào chắn cuối cùng mà một trong những đoạn rào là ngay sau lưng chùa Đồng.
Thực ra cảnh quan Yên Tử đã từng là tranh cãi giữa phe "bảo tồn" và phe công nghiệp, khi việc khai thác than mở rộng ra đến lân cận đây. Ảnh ga trên cáp treo có thấy một khai trường than lộ thiên. Cũng khai trường ấy nếu ở một điểm nhìn khác, với góc ống kính hẹp hơn thì trông nó lở lói, "tố cáo" hơn nhiều.
Rồi một nhà máy nhiệt điện lớn, theo công nghệ TQ(?), cũng đang được xây dựng trong tầm nhìn. Có lẽ sau này khi vái lạy Tam Tổ Thiền phái Trúc Lâm tại Chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử chúng ta vẫn sẽ không thể "thoát tục" khi bầu không khí có lẫn khói lò hơi?
Đấy, có nhiều bức xúc tiềm ẩn. Chúng ở ngoài tầm tay với và chúng ta phải chung sống với nó. Hãy thưởng thức những gì còn có thể. Leo này.

Nghỉ mệt.









Xin chào.









Nếu đau chân rồi thì ta xuống ... ngang!

Còn một người trong đoàn không có mặt trong các tấm ảnh, là lão Hợp. Lão bị "hết hơi" khi lên được một đoạn từ Hoa Yên. Lo lão không ổn chúng tôi phải ăn cùng nhau để theo dõi. Hết bữa không thấy có chuyện gì chúng tôi mới bắt đầu leo. Vì ăn rồi mới leo nên có phần uể oải, lên xuống mất gần 4 tiếng. Cống hiến của lão Hợp trong chuyến đi là một số thông tin đã được dùng trong bài viết này.

Đầu năm trả lời ông Thanh "rắn"

Ngày làm việc đầu năm 2008, tại văn phòngg mở mail thì được thư Chí Thọ. Hắn nhắn: nhờ gửi bài này lên blog k4-k5. Nghe mà sướng vì lính k3 lại "hòn mê" blog k4-k5. Xin đăng tòan văn.

Gửi Thanh “rắn”

Tôi vừa đi chơi lêu têu cả tuần về thì Kiến Quốc gọi điện đến :

- Anh “lặn” đâu mà “sâu” thế?!... Đã xem các bài du hành ký Quế Lâm của anh em chưa? Sau chuyến đi ai cũng “lên tay”…

Tôi bật máy. Vui thật! Các blogger đều viết hăng say. Lại còn tranh ảnh tràn ngập nữa… Có bạn gọi điện cho tôi :

- Trước đây đọc bài “Trở lại Quế Lâm” của ông, tôi cứ bần thần trước câu: "… Rồi tôi cũng đã thực hiện xong ước nguyện trở về Quế lâm. Chỉ một mình tôi trở về giữa chiều lộng nắng. Tất cả đều đã đổi thay, trừ dãy Triều Dương và dòng Ly Giang xanh ngắt”. Nó như chào mời, lại như thầm… oán trách(?). Lần này tụi tôi đi… cả bầy, làm “náo loạn” Quế Lâm. Ấy là hắn “nói kháy” tôi vì cái chuyện mười mấy năm trước (khi “chiến cuộc” mới vừa tạm lắng) đã một mình đi sang đó, ngó nghiêng xuôi ngược như tên… gián điệp, khiến bên Bạn cũng phải “nâng cao cảnh giác” cử người lò dò đi theo “giúp đỡ” suốt chặng đường dài.

Blog K4 viết hay. Rất ấn tượng. Đa chiều và sinh động. Ấm cúng mà vui tươi (Blog K3 chắc còn hay hơn, nhưng hiềm nỗi toàn bằng chữ… “Cămpuchia”, đánh vần hoài “hổng” được!).

Hơi bất ngờ khi gặp bài của Thanh “rắn” gửi tôi… Cảm động quá! Bạn bè xa nhau đã 40 năm mà vẫn còn nhớ, thật quý! Tôi quen Thanh “rắn” (K4) qua Đăng Việt (K3). Hắn lại còn nhắc đến một “bài thơ” xa lắc của tôi (?) và đòi tôi phải “chuộc” lại nữa… Nghĩ mãi mới lờ mờ nhớ ra rằng: Có lẽ (có lẽ thôi nhé) tôi đã viết ra nó thật… Viết trong một “hoàn cảnh” cùng vài bạn nữa (cũng lười học như mình) trốn ra Quế Lâm xem các phe phái “Hồng vệ binh”… choảng nhau. Chứng kiến cảnh binh đao xào xáo ấy; nghĩ tới cha mẹ, bà con mình đang gian khổ chiến đấu ở quê nhà; rồi lại thấy bức tượng “lãnh tụ vĩ đại” đang giơ tay mỉm cười giữa Thất Tinh Nham… mình đâm “tức cảnh” mà hóa… giận chăng(?). Giờ đây chẳng biết có nên gọi nó là … thơ hay không nữa(?). Nhưng có lẽ cái tình thì cũng là… dễ thương. (Nếu có bạn nào “lỡ đọc” thì xin hãy cho qua). Mong rằng Thanh “rắn” đừng “đăng quang” nó lên làm gì. Cứ coi như chỉ có anh em mình biết với nhau thôi. Mai mốt vô đây, tớ sẽ xin “chuộc” lại hậu hĩ. (Cứ liên hệ qua Kiến Quốc, nhà “bạn Trỗi” nào hắn cũng biết!).

Viết tới đây tôi lại bỗng nhớ ra rằng “trong lịch sử” tôi cũng đã từng bị một bạn khác bắt phải “chuộc thơ” (mà lần ấy thì coi bộ có phần “nguy” hơn!). Tiện đây xin kể dông dài một chút cho vui, ai xem thì xem (blog mà!). Bản thân tôi đã tự nghiệm ra rằng: Mình cũng có thể là một “nhà” nào đó (mà quan trọng nhất là “có nhà” để ở) nhưng chắc không thể là nhà… thơ! (Nhà thơ có nhiều “tố chất”… siêu việt lắm, mình “hổng” theo được). Nhưng tệ cái rằng thỉnh thoảng cũng có làm… thơ (nếu coi đó là thơ!). Nhưng tính tôi lại cẩu thả, viết xong là quăng đâu đó, chẳng đoái đến nữa. Bữa nọ gặp lại Trung Việt (K3). (Anh bạn tài hoa này đã “ra đi” mấy năm nay rồi, cầu mong cho hắn luôn thanh thản chốn vĩnh hằng!). Hắn giơ ra một tờ giấy cũ mèm dứ dứ “dọa” tôi:

- Bài thơ này mà lọt vào tay “bà xã” ông thì cũng có hơi… phiền đấy! Liệu mà “lo lót” cho… êm “cái vụ này” đi!

Tôi hơi… hoang mang, không biết sao thơ… thẩn của mình lại lọt vào tay hắn(?). Đó là bài “Không đề” theo thể 6 chữ gắt nhịp, viết cách đó những hơn… 20 năm. (Sau này ai đã đặt cho là “Tiếng người không nói”, nghe… “sến” lắm!). Trung Việt đọc oang oang cái đọan cuối khá… lâm li :

… Ta đi hút đường Hưng Đạo

Ngoảnh lại vẫn thấy người nhìn

Chợt hiểu điều người muốn nói

Sau đôi mắt sáng im lìm

Nhìn nhau đắm đuối, lâu thế, đến “hút” cả con đường dài nhất của Hà Nội. Hẳn nhiên phải có… vấn đề rồi! Tuy nhiên, tôi đã thở phào, vì hắn chỉ đưa ra cái “đuôi” mà dấu đi cái “đầu”. Bài thơ có ba khổ, mà ngay khổ đầu đã rất rõ ràng minh bạch :

Ngôi nhà thân yêu của ta

Ta đã bao lần trở lại

Ta đã bao lần ra đi…

Nó được viết trong “12 ngày đêm B52” ở Hà nội. Là khi tôi tranh thủ tạt qua nhà, chứng kiến cảnh Khâm Thiên, Bạch Mai tan hoang, Đại sứ quán Pháp (chỉ cách nhà tôi vài chục mét) sụp đổ… Nhớ đến câu nói của Bác Hồ: "Hà Nội, Hải Phòng… có thể bị tàn phá, nhưng nhân dân ta quyết không sợ!...". Bi tráng quá! Tôi linh cảm như đây là lần cuối còn nhìn thấy Hà Nội, nhìn thấy ngôi nhà thân yêu của mình… Đạp xe lầm lũi trong đêm ngược hướng sông Hồng (vì cầu Long Biên đã bị đánh sập) về lại đơn vị, bài thơ đã dần định hình…

Nó không đăng ở đâu cả, nên được coi như vẫn “để ngỏ”. Vài năm sau tôi đi Trường Sa, dạt vào Song Tử giữa mùa dông bão. Cảm khái trước cái gian truân gan góc của nơi chân trời góc biển ấy, tôi đã “bổ sung” thêm một đoạn nữa vào “Không đề” :

Ta băng ra vùng biển lớn

Nước trời ngờm ngợp long đong

Chong chong đêm trường Song Tử

Bồi hồi manh áo tả tơi…

Vô cùng gian khổ, người ơi!

Mà không cầu xin chi cả

Can trường và chỉ… yêu thôi!

Đã “không cầu xin chi cả” mà lại còn nèo thêm “chỉ… yêu thôi!” thì quá lắm(!). “Ta – Người” ở đây có thể là ai đó, mà cũng có thể là tâm trạng lính biển với đất liền… Ấy thế mà Trung Việt còn định “dọa” tôi. (Bây giờ thì Song Tử đã “đỡ lắm rồi” ít nhất thì cũng có căn nhà để ở, có rau để ăn…).

Có ai đó đã viết rằng :

Thơ là rượu của thế gian

Phải đâu nước lã rót tràn mời nhau

Cho đời nhớ được một câu

Bạc đầu người viết chắc đâu đã thành

Thơ tôi thuộc loại … xoàng. Thế mà 40 năm rồi Thanh “rắn” vẫn còn nhớ được. Điều đó hẳn vì tình nghĩa bạn bè, chứ không phải vì thơ… thẩn. Cảm động là vậy! (Thời buổi này mấy ai còn ngó đến… thơ). Vậy thì, cứ y theo lời hẹn: Ngày “tái ngộ” nào đó, tôi xin “chuộc lại bản quyền” chu đáo.
Chứ đưa lên blog cái tâm trạng chàng trai 17 tuổi cách đây gần nửa thế kỷ hẳn sẽ bị mấy ông bà già “u-ơ” 60 “thời @” cười cho. Đưa lên là khỏi “chuộc” luôn./.
Tháng
12/2007

TRẦN CHÍ THỌ



Thứ Ba, tháng 1 01, 2008

Sớm đầu năm

Sớm, phố xá nghe chừng yên ắng hơn. Ngày nghỉ, bà con không đi làm nên mật độ tiếng ồn giảm hẳn. Suốt từ sáng 30, nhà nhà đã treo cờ. Những dịp vui như thế này người Sài Gòn có thói quen treo cờ để tưởng nhớ đến những người đã hy sinh vì nước! Giá mà quan chức ngày nay dám hy sinh như thế?
Đêm 31, tiết trời lạnh - có lẽ - không kém gì Hà Nội. Cũng chăn đơn chăn kép. Trời sáng nay âm u. Ngày đầu năm đã thế, không hiểu 364 ngày còn lại tiết trời sẽ ra sao? Mong rằng sẽ tốt!
Lên mạng đã thấy lời chúc từ những blog thành viên. Vạn sự như ý cho đại gia đình Trường Trỗi!